QUẺ SỐ 95: BÁT THUẦN CẤN

Quỷ Cốc Tiền Định Số

1. THIÊN ÁM TINH
   * Giờ Mậu Tý: Cách LỘ NHẬP BÌNH PHA 頗
   Dịch: Đường vào nơi vừa phẳng vừa nghiêng
   Giải: Nhất sinh bất phùng hiểm cảnh
   Dịch: Một đời không gặp nguy hiểm
   * Giờ Mậu Dần: Cách LÃNG LÝ THỪA CHU
   Dịch: Cưỡi thuyền đi trong sóng
   Giải: Lịch tận gian tân phương năng thành công
   Dịch: Trải qua hết mọi gian nguy nhọc nhằn mới có khả năng thành công
   2. THIÊN QUYỀN TINH
   * Giờ Mậu Thìn: Cách KIỀU TÙNG THÊ HẠC
   Dịch: Chim hạc đậu cây tùng cao
   Giải: Thê 棲 thân cao xứ đắc hiển trường tài
   Dịch: Nương đậu thân mình nơi chốn cao được tỏ rõ tài năng lâu dài
   * Giờ Mậu Ngọ: Cách TỈNH LÂN NHẬP HẢI
   Dịch: Cá ở trong giếng bơi vào biển
   Giải: Cửu khốn chi hậu đại khả phát triển
   Dịch: Sau khi bị khốn khổ đã lâu sau có cơ hội phát triển lớn
   3. THIÊN QUÝ TINH
   * Giờ Mậu Thân: Cách THU NHẬT PHÙ DUNG
   Dịch: Cây phù dung ngày mùa thu
   Giải: Trung niên dĩ hậu vô ưu vô lự
   Dịch: Từ tuổi trung niên trở về sau không lo không nghĩ
   * Giờ Mậu Tuất: Cách DU PHONG KẾT MẬT
   Dịch: Ong vui chơi kết mật
   Giải: Đông bôn 奔 tây tẩu khả 可 vọng hoạnh lợi
   Dịch: Chạy đông chạy tây khá được lợi
   4. Cách chung cho người tuổi Quý sinh giờ Mậu
   NHẠN HÀNH PHONG CẤP 急 Cách
   Nhạn hành phong cấp Sở thiên cao
   Mãnh tính huy 揮 triên tẩu nhất tao 遭
   Tận đạo thất thân phùng hiểm xứ
   Thùy tri hữu lộ đắc tiêu dao 逍遙
   Qui lai lãn khán đài tiền kính
   Xuất khứ trùng ma xảo nội đao
   Bất thị nhứt phiên cương đởm chí
   Như hà bình địa thượng vân tiêu
   Dịch:
   NHẠN BAY GẶP GÓ MẠNH
   Nhạn bay gió gấp trời nước Sở
   Tính nóng vung roi chạy một vòng
   Hết đường thân mất gặp nơi hiểm
   Ai ngờ có đường được ung dung
   Quay về lười ngắm trước đài gương
   Ra đi mài lại đao ở trong bọc
   Nếu chẳng một phen chí can đảm
   Thì sao đất bằng lên mây xanh?
   5. Khái quát cuộc đời người tuổi Quý sinh giờ Mậu
   * Mệnh này đã kinh doanh từ lúc còn trẻ, muộn chậm mới được an nhàn, một mình chèo chiếc thuyền đi trên sóng gió, giữa đêm trong rừng núi gặp cọp dữ, việc gì cũng sinh lắm cái lôi thôi, khó biện bạch cho rành lẽ lúc nguy hiểm lại được thoát thân, có tài thấy được cơ mưu mà tiến thoái, trong lòng ý muốn chỉ cho người biết nhưng miệng nói ra lời lẽ cứ như là đánh chết người, gặp việc nhỏ chẳng sợ hãi việc lớn giỏi xua đuổi, chỉ không được vừa ý là thân tình quyến thuộc lạnh nhạt như nước, hễ đối diện nhau là phân chia tranh đấu nhau như hai nước Ngô nước Việt, chớ buồn nhạt nhẽo lãnh đạm như thế chỉ vì mệnh nó đưa đến như vậy.
   6. Cơ nghiệp
   Ân cần lợi lộc tựa dương trường
   Phong nguyệt vô biên chi quế hương
   Tiến ngộ tang du li cúc mậu
   Điền viên cảnh vật vị tầm thường
   Dịch
   Lợi lộc ân cần tựa ruột dê (1)
   Gió trăng không bờ chi quế thơm
   Tiến gặp ruộng dâu giàn cúc tốt
   Ruộng vườn cảnh vật chẳng tầm thường
   (1) Thẳng như ruột dê: tiền bạc vào là ra ngay
   7. Huynh đệ (anh em)
   Thu thâm hồng nhạn các phân phi
   Nhất cá đông lai nhất cá tây
   Vạn lý giang sơn minh nguyệt hảo
   Lĩnh đầu tiên ký hảo xuân du
   Dịch
   Cuối thu hồng nhạn đều chia bay
   Một con đông đến một con tây
   Muôn dặm núi mây trăng sáng đẹp
   Đầu non gởi trước đóa mai xuân
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Tích nhật vị thành an ổn địa
   Doanh gia tráng lực thập phần lao
   Phùng dương ngộ khuyển tu thông đạt
   Phụ tử đồng vinh thượng cửu cao
   Dịch
   Ngày trước chưa được nơi yên ổn
   dựng nhà sức mạnh mười phần nhọc
   Gặp Mùi gặp chó thì thông được
   Cha con vinh hiển chốn cửu cao
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Thế hợp vị tri thủy thâm thiển
   Hữu như nguyệt khuyết tái đoàn viên
   Chung tu danh lợi thành ân sủng
   Âu lộ phân phân thượng điếu thuyền
   Dịch
   Thế hợp chưa rõ nước nông sâu
   Giống như trăng khuyết lại tròn đầy
   Sau vì danh lợi thành ân sủng
   Cò vạc ngổn ngang lên thuyền câu
   10. Tử tức (con cái)
   Chi đầu đào lý cạnh hinh hương
   Nhất cá thanh thanh nhất cá hoàng
   Chi cán tranh vanh ấm 蔭 tí địa
   Mãn đình chu tử diệu kim chương
   Dịch
   Đầu cành đào lý ngát đưa hương
   Một quả xanh xanh một quả vàng
   Cành nhánh tranh cao che bóng đất
   Đầy sân đỏ tía sáng kim chương
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Thố long niên phận mạc hành chu
   Thủy cận lâu đài hữu cá ưu
   Nhân tại thủy tinh cung lý tọa
   Điếu đài sơn hạ bản du du 攸攸
   Dịch
   Năm Thỏ năm Rồng chớ đi thuyền
   Lâu đài gần nước có chuyện lo
   Người ở thủy cung ngồi trong đó
   Đài câu dưới núi vốn thăm thẳm