QUẺ SỐ 85: THỦY SƠN KIẾN

Quỷ Cốc Tiền Định Số

1. THIÊN BẢO TINH
   * Giờ Mậu Tý: Cách NHẠN TÚC 宿 LAM 嵐 ĐIỀN
   Dịch: Chim nhạn đậu ở ruộng lam
   Giải: Cô thân viễn xuất đáo, hậu hoài bích nhi quy
   Dịch: Một mình đi xa đến nơi, sau nhớ ngọc Bích mà về
   * Giờ Mậu Dần: Cách QUẬT ĐỊA TÀI QUỲ
   Dịch: Đào đất trồng cây quỳ
   Giải: Căn thâm đế cố quan vận hanh thông
   Dịch: Gốc sâu rễ bền chặt, vận làm quan hanh thông
   2. THIÊN KHUÊ TINH
   * Giờ Mậu Thìn: Cách KHOÁNG 擴 ỐC AN MIÊN
   Dịch: Nhà rộng rãi ngủ yên giấc
   Giải: Tâm địa khoan 寬 hồng 洪 vô ưu vô lự
   Dịch: Tấm lòng khoan thai rộng lớn chẳng lo chẳng nghĩ ngợi
   * Giờ Mậu Ngọ: Cách LÂM LÝ MINH CẦM
   Dịch: Gẩy đàn trong rừng
   Giải: Nhất sinh đắc nội trợ chi lực
   Dịch: Một đời được sức lực bên trong giúp đỡ
   3. THIÊN TÀI TINH
   * Giờ Mậu Thân: Cách NGUYỆT CHIẾU HÀN ĐÀM
   Dịch: Trăng soi đầm lạnh
   Giải: Thất ý chi thời tự hữu quý nhân phù trợ
   Dịch: Lúc thời bị thất ý sẽ có quý nhân giúp đỡ
   * Giờ Mậu Tuất: Cách LƯƠNG MÃ HÃM NÊ
   Dịch: Ngựa giỏi bị kềm hãm trong bùn lầy
   Giải: Mục tiền khốn đốn 困頓 chung tất phi hoàng 煌 đằng đạt
   Dịch: Trước mắt đình trệ không tiến lên được, sau ắt có sáng sủa bay bổng phát đạt
   4. Cách chung cho người tuổi Nhâm sinh giờ Mậu
   KIM NGỌC MÃ ĐƯỜNG cách
   Giang biên hồng nhạn lệ thu phong
   Nhất cá phi lai chiếm diệp tùng
   Vô phận nhất hào nan đắc ngộ
   Hữu duyên thiên lý dã tương phùng
   Tam thu lão quế song phi tú
   Thiên tuế bàn đào nhất quả hồng
   Nhược đắc quý nhân thừa bảo mã
   Mãn đường kim ngọc ỷ la trung
   Dịch:
   VÀNG NGỌC ĐẦY NHÀ
   Gió thu bên sông hồng nhạn hót
   Một con bay tới chiếm cụm lá
   Không duyên phận mảy long không có
   Có duyên ngàn dặm cũng dễ gần
 Quế già ba mùa thu hai cành tốt
   Trái bàn đào ngàn năm một quả đỏ tươi
   Nếu được quý nhân cưỡi ngựa báu
   Đầy nhà chứa dầy vàng ngọc lụa là
   5. Khái quát cuộc đời người tuổi Nhâm sinh giờ Mậu
   * Thử mệnh tính cương đương đởm đại, chí khí hiên ngang 軒昂 tác sự tàng cơ xuất ngôn, đĩnh đĩnh 挺挺 nhược hàn tùng độc tú, quyên quyên 娟娟 như cô 孤nguyệt độc minh, lục thân bất tương đầu 投, huynh đệ nan cộng xử, tụ trung hữu tán bại trung hữu thành, quý nhân tương kính tất đề huề 提攜 , bất tác ôi 偎 thôi 推 xi 蚩xuẩn 憃 khách, thán thời vận khoái hảo sự kiến trì, nhật ngộ tri kỷ, quan vinh cực phẩm
   * Mệnh này tánh cứng cỏi cùng với mật lớn, chí khí cao cả làm việc ẩn dấu cơ mưu, phát ra lời nói có sức áp đảo chúng nhân, sừng sững như cây tùng lạnh một mình tươi tốt, xinh đẹp như mảnh trăng cô đơn soi sáng một mình, chẳng có thể nương nhờ cùng với hai họ, anh em khó cùng ở chung với nhau, trong tụ có tán trong bại có thành, quý nhân cùng kính trọng ắt sẽ nâng đỡ lẫn nhau, chẳng thân gần chọn lựa làm kẻ đần độn ngây ngô, than thời vận sao không được vui sướng thoả thích tốt việc thấy chậm tới, một khi gặp được tri kỷ rồi thì làm quan vinh hiển đến cực phẩm.
   6. Cơ nghiệp
   Phản phúc diên lien vận khước nan
   Kỷ đa nhân sự thán gian quan
   Phùng dương ngộ khuyển trùng hồi thủ
   Tức lộc thừa ngưu tại lưỡng san
   Dịch:
   Tráo trở liền liền vận hạn gian nan
   Bao nhiêu nhân sự than thở ngăn cách
   Gặp năm Mùi năm Tuất hãy quay đầu lại
   Tức là hươu cưỡi trâu ở hai hòn núi
   7. Huynh đệ (anh em)
   Nhạn phi đỉnh thế phân nam bắc
   Nhất chích cô hồng hạ bích than
   Vũ tế bạch tần hồng lục ngạn
   Ngư chu điếu nguyệt tự hồi hoàn
   Dịch:
   Nhạn bay thế chân vạc chia nam bắc
   Một chim hồng lẻ loi hạ xuống bến biếc
 Mưa tạnh trên bờ đầy cỏ tần cỏ lục
   Thuyền cá câu trăng tự trở về
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Tích lịch nhất thanh lôi vũ chí
   Long phi nhạn vũ giáng hỉ tường
   Ưu du nhân tại cao lâu tọa
   Côn hóa bằng phi thượng ngọc đường
   Dịch:
   Một tiếng sấm vang gió mưa đến
   Rồng bay phượng múa giáng điều lành
   Người ngồi trên lầu cao thấy an nhàn thay
   Cá côn hóa chim bằng bay lên lầu ngọc
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Diêu cầm tái điệu huyền nhân đoạn
   Nguyệt khuyết hoa tàn lệ sái khâm
   Yến tử sào không nhân áo não
   Cao sơn lưu thủy thiểu nhân tri
   Dịch:
   Vặn lại phiếm đàn vì dây đứt
   Trăng khuyết hoa tàn lệ thấm khăn
   Tổ yến bỏ không người phiền muộn
   Núi cao nước chẩy ít kẻ tri âm
   10. Tử tức (con cái)
   Xuân mộ hoa tàn lưu nhất quả
   Vãng lai nhất quả tối tiên hồng
   Hỉ kiến tang du chi diệp mậu
   Mục đồng hoành địch lộng thanh phong
   Dịch:
   Cuối xuân hoa tàn còn một quả
   Về già một quả lại tươi hồng
   Mừng thấy ruộng dâu cành lá tốt
   Chú mục đồng thổi sáo đùa với gió trăng
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Phùng dương ngộ khuyển đăng vân lộ
   Nhân sự sâm thương mộng đoạn thì
   Kham thán bách niên vinh hiển sự
   Xuân phong hiệu đảng nhật trì trì
   Dịch:
   Gặp năm Mùi năm Tuất thì lên đường mây
   Người xa cách như (sao) Sâm, Thương lúc giấc mộng vừa dứt
   Đáng than cuộc vinh hiển trăm năm
   Gió xuân đầy dẫy ngày trôi chầm chậm