QUẺ SỐ 83: THỦY HỎA KÝ TẾ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

1. THIÊN TRÙ TINH
   * Giờ Bính Tý: Cách TUYẾT THIÊN HÀNH TRÌNH
   Dịch : Đi đường trời mưa tuyết
   Giải: Mệnh cùng chí kiên chung năng thành công
   Dịch: Mệnh cùng khốn chí kiên trì bền vững về sau có khả năng thành công
   * Giờ Bính Dần: Cách THU DIỆP PHIÊU PHONG
   Dịch: Lá mùa thu tung bay trong gió
   Giải: Cùng khốn chi thời tự hữu quý nhân đề bạt
   Dịch: Gặp thời cùng khốn sẽ có quý nhân giúp đỡ
   2. THIÊN TRỤ TINH
   * Giờ Bính Thìn: Cách ĐỘNG LÝ MINH CẦM
   Dịch: Gảy đàn trong hang động
   Giải: Nhất sinh đắc hưởng thanh nhàn chi phúc
   Dịch: Suốt đời được hưởng phúc thanh nhàn
   * Giờ Bính Ngọ: Cách XUÂN NHẬT MẪU ĐƠN
   Dịch: Hoa mẫu đơn trong ngày xuân
   Giải: Thiếu niên phát đạt trực thượng thanh vân
   Dịch: Tuổi trẻ phát đạt lên thẳng mây xanh
   3. THIÊN TOẠI TINH
   * Giờ Bính Thân: Cách HÀN HUỲNH 螢 TÁN 散 HỎA
   Dịch: Trời lạnh đom đóm tán lửa
   Giải: Sở tác sự nghiệp nan dĩ thị nhân
   Dịch: Việc gây dựng sự nghiệp khó nhờ cậy được người khác
   * Giờ Bính Tuất: Cách KHÔ CHI SINH HOA
   Dịch: Cành khô nở hoa
   Giải: Thất bại chi hậu nãi 乃 hữu chuyển cơ
   Dịch: Sau khi thất bại có cơ chuyển biến tốt
   4. Cách chung cho người tuổi Nhâm sinh giờ Bính
   VIÊN HÝ TÙNG LÂM
   Vũ hậu sơn trùng tú
   Vân khai nguyệt tái viên
   Thế tình giai hảo xứ
   Tâm sự hợp thiên nhiên
   Nhạn lạc cô nham viễn
   Hoa khai lưỡng quả tiên
   Hổ yêu tao bạch nhận
   Ngưu giác hoán chu huyền
   Dịch:
   VƯỢN GIỠN RỪNG TÙNG
   Mưa rồi núi lại đẹp
   Mây tan trăng lại tròn
   Tình đời đều đổi tốt
   Tâm sự hợp thiên nhiên
   Nhạn rơi núi cao xa
   Hoa nở hai quả tốt
   Lưng cọp đeo dao nhọn
   Sừng trâu đổi dây hồng
   5. Khái quát cuộc đời người tuổi Nhâm sinh giờ Bính
   * Thử mệnh vi nhân kiến khoái tác sự cảm vi, bất tằng đại đởm tiểu tâm, khởi 豈khẳng 掯 xảo ngôn nịnh sắc, nhất tâm trung chính phản tao hàm oán oan cừu, bách sự tân cần dã đới quan hình khẩu thiệt 舌, ký tế ư nhân hành hảo sự nhất tràng ưu lự tự chiêu lai.
   * Mệnh này là người thấy thích làm việc dám làm, chẳng từng mật lớn tâm tinh tế, há chịu bị đè ép để nói dối trá hay nịnh nọt bợ đỡ, một tấm lòng trung chính lại bị ngược lại ngậm oán oan hờn thù hận, trăm việc cần cù cay đắng vậy mà vướng mắc phải hình sự miệng lưỡi, đã giúp người làm việc tốt vậy mà chỉ chiêu vời lấy một trường suy nghĩ ưu lo.
   6. Cơ nghiệp
   Xa đảo mệnh thôi tái chính phù
   Hưu ta thán lịch tại viễn đồ
   Tri âm đề xiết tây kinh khứ
   Thu lãm giang sơn nhập họa đồ
   Dịch:
   Xe lật sửa lại cho ngay rồi đẩy đi
   Đừng than thở phải trải qua đường xa
   Bạn tri âm dẫn dắt về phía tây kinh
   Non sông thu gọn vào tấm họa đồ
   7. Huynh đệ (anh em)
   Thiên biên tịch phi song nhạn tự
   Cô phi nhất chích tại diêu thiên
   Tử kinh hoa hạ nhân thùy lệ
   Đường lệ phương phi sắc bất tiên
   Dịch:
   Bên trời cùng bay đôi hang nhạn
   Lẻ loi một con ở trời xa
   Dưới bụi hoa tía người rơi lệ
   Hoa đường lệ thơm tho sắc chẳng tươi
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Tự hữu quý nhân tương tiếp dẫn
   Trọng vinh, trọng lộc tái thao trì
   Thanh sơn lục thủy đa du lãm
   Yến ngủ oanh đề hữu tận kỳ
   Dịch:
   Sẽ có quý nhân cùng dẫn dắt
   Quan cao lộc trọng lại rong ruổi
   Non xanh nước biếc tha hồ du lãm
   Yến hót oanh kêu cũng có khi ngừng
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Cải điệu cầm trung tầm nhất khúc
   Tạp huyền vưu khủng bất tri âm
   Đảng khan minh nguyệt thanh phòng dạ
   Hạc lệ viên đề oán bất bình
   Dịch:
   Tìm một khúc đàn để đổi điệu
   Giây lẩn càng sợ thiếu người tri âm
   Chờ xem đêm trăng sáng gió trong
   Hạc kêu vượn hót tỏ nỗi bất bình
   10. Tử tức (con cái)
   Phong cuồng vũ đại hoa nhân thiểu
   Đạm đảng thu quang tam quả thủ
   Chi thượng thanh hoàng tương gián thác
   Tang du nguyệt hạ tử quy đề
   Dịch:
   Gió lớn mưa to nên hoa phải ít
   Trăng thu mờ nhạt ba quả rũ xuống
   Trên cành mầu xanh mầu vàng xen kẽ
   Vườn dâu dưới trăng chim tử quy hót
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Thố tẩu kê đề hảo quá quan
   Xuân truy nguyệt lạc hạ trùng san
   Lâu giang lão nhạn không trù trướng
   Nhan tiểu phù đồ vấn A – Nan
   Dịch:
   Năm Mão năm Dậu đúng là lúc qua cửa ải
   Xuân về trăng lặng trên dãy núi
   Ở trên lầu con nhạn gia luống buồn bã
   Cười nhìn tháp phù đồ hỏi đệ tử Nhà Phật