QUẺ SỐ 82: ĐỊA PHONG THĂNG

Quỷ Cốc Tiền Định Số

1. THIÊN ÁM TINH
   * Giờ Ất Sửu: Cách PHI VÂN ĐỐI NGUYỆT
   Dịch: Vén mây đối mặt với trăng
   Giải: An phận thủ kỷ vô ưu vô lự
   Dịch: An phận giữ mình không lo nghĩ
   * Giờ Ất Mão: Cách KHÔ MỘC PHUNG XUÂN
   Dịch: Cây khô gặp mùa xuân
   Giải: Tổ nghiệp điêu linh tự hữu sinh cơ
   Dịch: Cơ nghiệp của Tổ tiên điêu linh tàn tạ, tự mình sinh ra cơ đồ lập nên nghiệp mới
   2. THIÊN TRẦM TINH
   * Giờ Ất Tỵ: Cách TÙNG BÁCH TUẾ HÀN
   Dịch: Cây tùng bách mùa đông
   Giải: Lập chí kiên định tuy bần vô hại
   Dịch: Lập chí vững chắc tuy nghèo nhưng không hư hại
   * Giờ Ất Mùi: Cách LẬU 漏 VÕNG CHƯƠNG NGƯ
   Dịch: Lưới bị rách thủng bắt cá
   Giải: Tiên bại hậu thành nhân nhân khởi kính
   Dịch: Trước bại sau thành người người kính phục
   3. THIÊN TỨ TINH
   * Giờ Ất Dậu: Cách PHONG PHIÊU 飄 LIỄU NHỨ 絮
   Dịch: Gió tung bay tơ liễu
   Giải: Y phụ quy nhân phát tích tự dị
   Dịch: Nương nhờ vào quý nhân phát đạt dễ dàng
   * Giờ Ất Hợi: Cách NHAM HẠ TẨU MÃ
   Dịch; Cưỡi ngựa dưới sườn núi
   Giải: Đáo xứ hiển nhân bảo hộ bất dụng ưu lự
   Dịch: Đến đâu có người bảo vệ hỗ trợ không phải lo âu nhiều
   4. Cách chung cho người tuổi Nhâm sinh giờ Ất
   NGỌC OẢN BÀN ĐÀO
   Ngoan thạch uẩn châu ngọc
   Hàn sa tạp toái kim
   Dị hương đương miễn lực
   Cố quốc tĩnh lao tâm
   Hữu ý như tu tạ
   Vô tâm liễu bổ âm
   Yêu cầu chân bảo xứ
   Tu hướng thủy biên tầm
   Dịch:
   QUẢ ĐÀO TIÊN (1) TRONG CHÉN NGỌC
   Đá xấu dấu ngọc quý
   Cát lạnh lẫn vàng vụn
   Đi làng khác nên gắng sức
   Ở quê cũ bớt lao tâm
   Có ý nên hoa rụng
   Vô tình liễu rủ bóng
   Cần tìm nơi thực quý
   Thì tìm đến ở ven sông
   (1) Tích Vua Hán Vũ – Đế cầu được quả đào tiên, cây này 3000 năm mới có quả
   5. Khái quát cuộc đời người tuổi Nhâm sinh giờ Ất
   * Thử mệnh tại thiên vô hỗn độn hối minh chi diệu, tại địa vị trọng trọc hôn mê chi tú, hữu thủy vô chung vong tiền thất hậu, dữ bằng hữu giao dị tụ dị tán, lục thân tam hỷ lưỡng ưu, chỉ nghi bán tục bán không, phương hứa đồ danh đồ lợi, thê nhi kiến phá, tổ nghiệp nan chiêu, chỉ nghi tam tính đồng cư bất nghi nhất thân tự lập.
   * Mệnh này ở trời là sao hỗn độn sáng tối, ở đất là sao nặng đục mờ lẫn, có đầu không có đuôi lạc trước mất sau, giao du cùng với bạn bè dễ hợp dễ tan, với hai họ ba mừng hai lo, chỉ nên nửa trần tục nửa thầy tu mới có thể mưu đồ danh lợi, vợ con thấy phá tổ nghiệp khó vời, chỉ nên làm con nuôi họ khác mà ba họ cùng ở thì tốt, chẳng nên một mình tự lập.
   6. Cơ nghiệp
   Hải thượng ly châu nhân bất thức
   Long tường phụng vũ thủy thành chân
   Hoàng kim bách luyện tinh quang hiện
   Đắc độ cao nhân cận tử thần
   Dịch:
   Có ai biết được hạt ly châu ở trên biển
   Đến khi rồng bay phượng múa mới thành sự thật
   Vàng ròng trăm luyện ánh sang xuất hiện
   Được gặp cao nhân gần cung vua
   7. Huynh đệ (anh em)
   Nhị nhạn cao phi nhất trích đê
   Vân thủy lộ đắc kinh nan phi
   Bi minh lưỡng dưỡng thiên biên khứ
   Nhất cá thê lương nhập thúy vi
   Dịch:
   Hai nhạn bay cao một con bay thấp
   Mây che đường lấp khó mà bay
   Kêu tha thiết từng cặp bay về phía chân trời
   Một con thê thảm đáp xuống đám cỏ vi
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Cải cựu hoàn tân du dị thoại
   Vô duyên khước thị hữu duyên nhân
   Tiền trình tận thị xuy hư khách
   Thủy khẩu tương phùng thị yếu tân
   Dịch:
   Đổi cũ thay mới nên nói chuyện lạ
   Gặp người tưởng là không duyên nợ thành có nợ duyên
   Trên đường tương lai gặp những khách thở dài
   Gặp nhau nơi thủy khẩu đấy là bến quan trọng
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Võng triệt phùng ngư tu ngộ trào
   Uyên ương âu lộ lưỡng tương nguyên
   Nguyệt minh tinh lãng nhân hà tại
   Linh hạc hư trường vũ gia kiều
   Dịch:
   Thu lưới cá nổi lại gặp thủy triều
   Uyên ương cò vạc đầy đủ từng đôi
   Trăng trong sao sáng người ở đâu
   Con linh hạc truyền trên không lấy lông cánh làm cầu
   10. Tử tức (con cái)
   Đào lý nhị hoa nhất quả
   Vãng lai nhất quả vị thương hồng
   Tang du vãng cảnh xâm xâm mậu
   Chi quế phương phi mãn nhãn trung
   Dịch :
   Đào lý hai bông cùng một quả
   Đến chiều một quả đỏ lạ thường
   Chiều lại ruộng dâu xanh tốt
   Chi quế thơm tho nhìn sướng mắt
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Kiến hổ bôn sơn tẩu thổ viên
   Tử quy đề xứ lệ ban ban
   Thanh phong minh nguyệt tùy thời hữu
   Hạc tại thanh thiên tự vãng hoàn
   Dịch:
   Thấy hổ (Dần) chạy ở núi thỏ (Mão) chạy ở rừng
   Nơi có chim tử quy kêu lệ chảy ròng ròng
   Gió trong trăng sáng tùy lúc có
   Hạc ở mây xanh tự đi về