QUẺ SỐ 67: BÁT THUẦN ĐOÀI

Quỷ Cốc Tiền Định Số

CANH – CANH
   1. THIÊN PHÁC TINH
   * Giờ Canh Tý: Cách PHÚ BÌNH NGỘ VŨ
   Dịch: Bèo nổi gặp mưa
   Giải: Hành tung vô định phòng hữu hoạn nạn
   Dịch: Hành động không chủ đích đề phòng hoạn nạn
   * Giờ Canh Dần: Cách LÃNG TRỤC 逐 HÀNH CHU
   Dịch: Đi thuyền sóng đuổi theo
   Giải: Ngộ sự hữu trở ngại tu yếu cẩn thận
   Dịch: Gặp việc có trở ngại càng nên cẩn thận
   2. THIÊN ĐÔ TINH
   * Giờ Canh Thìn: Cách TUYẾT NGUYỆT MAI HOA
   Dịch: Hoa mai dưới trăng trời tuyết
   Giải: Tĩnh trung đắc thú hữu tăng nhân chi mệnh
   Dịch: Tìm thú vui trong yên tĩnh có số làm nguời tu hành
   * Giờ Canh Ngọ: Cách VŨ TRUNG TỰ CHƯỚC
   Dịch: Trong trời mưa tự rót rượu
   Giải: Ưu hoạn trung tự đắc kỳ lạc
   Dịch: Trong cơn hoạn nạn tự được cái vui
   3. THIÊN ĐẨU TINH
   * Giờ Canh Thân: Cách NGUYỆT DẠ ĐĂNG LÂU
   Dịch: Lên lầu đêm trăng
   Giải: Lão vận hanh thông
   Dịch: Tuổi già hanh thông
   * Giờ Canh Tuất: Cách NGUYỆT HẠ MINH CẦM
   Dịch: Gẩy đàn dưới trăng
   Giải: Nhất sinh tiêu dao khoái lạc
   Dịch: Trọn đời ung dung tự tại sung sướng
   4. Cách chung cho người tuổi Canh sinh vào giờ Canh
   XUÂN HOA THU DIỆP Cách
   Độc đạo thiên chu phiếm ngũ hồ
   Đông Tây Nam Bắc Sở tiền Ngô
   Xuân lai xạ hỷ hoa sơ phóng
   Thu hậu nga kinh diệp dĩ sơ
   Ngạn khoát trào bình ngư huyện ổn
   Thiên cao vân đoạn nhạn hành cô
   Như quân kim nhật hồng trần khách
   Hà bất lâm gian kiến phật đồ
   Dịch:
   HOA XUÂN LÁ THU
   Mội mái thuyền con dạo chơi ở Ngũ Hồ
   Đông, Tây, Nam, Bắc, Sở rồi đến Ngô
   Xuân đến chợt mừng hoa mới nở
   Thu qua thoáng sợ lá đang thưa
   Bờ rộng trào yên bang cá ồn
   Trời cao mây đứt khúc nhạn bay lẻ
   Nếu như nhà người là khách hồng trần
   Sao chẳng ở trong rừng xem tranh Đức Phật
   5. PHÁN ĐOÁN
   * Thử mệnh chi lan tú u cốc, tùng bách mậu thâm sơn, huynh đệ sự nghiệp nan thông, phụ mẫu căn cơ thiển thủ, chỉ nghi tự lập độn nhập không môn, thân nghi phong trung thu diệp, nhân tình thủy thượng xuân băng, thành bại đa đoan 端 lợi danh tiến thóai, mệnh lý bất ưng chu tử quý, chung tu lâm hạ tác nhàn nhân.
   * Mệnh này như cây Lan đẹp trong hang tối, như cây Tùng cây Bách tốt trong núi sâu, anh em sự nghiệp khó thông suốt, ít giữ được cơ ngơi của cha mẹ, chỉ nên tự lập ẩn vào cửa chùa mà đi tu, người thân như lá thu trong gió, tình người như băng mỏng mùa xuân tan trên nước, danh lợi nhiều nguyên nhân tiến rồi lùi, trong mệnh này không chịu mặc áo đỏ áo tía qúy hiển, mà chỉ nên dưới rừng làm người nhàn nhã.
   6. Cơ nghiệp
   Đại trạch thiên chu quá Ngũ hồ
   Tùy phong nhập Sở hựu qui Ngô
   Bình sinh lịch thiệp gian nguy sự
   Tài cận vương hầu đức bất cô
   Dịch:
   Từ đầm lớn thuyền con qua Ngũ Hồ
   Theo gió vào Sở rồi lại qua Ngô
   Bình sinh đã trải mọi gian nguy
   Tài gần Bậc Vương hầu đức không phải mỏng
   7. Huynh đệ (anh em)
   Thủy viễn sơn điêu qui lộ mê
   Thiên biên tam nhạn các phân phi
   Giang sơn đa thiểu nhàn tung tích
   Độc bả ngư can thượng điếu ky
   Dịch:
   Nước non xa thẳm quên lối về
   Bên trời ba nhạn mỗi con bay mỗi nơi
   Non sông biết mấy dấu chân nhàn
   Một mình cầm cần câu lên ngồi trên hòn đá
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Hồi thủ long biên kiêm mã thủ
   Vô tâm hỷ xứ tự nhiên lai
   Ưu du tuế nguyệt phương tri ngộ
   Đề xiết tiên lang thượng cứu cai
   Dịch:
   Quay đầu đã thấy lưng rồng (Thìn) và đầu cọp (Dần)
   Không trông đợi mà điều mừng tự trời xuống
   Ngao du năm tháng mới gặp người tri ngộ
   Dẫn dắt chàng tiên lên chốn cửu cai
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Tuy hữu mình cầm thanh vận nhã
   Bi nhiên diệc bất tại thanh âm
   Kỷ niên trục lãng tùy ba ngộ
   Ná cá tri âm thế túc tâm
   Dịch:
   Dù thanh vận cung đàn rất tao nhã
   Mối buồn không phải do thanh âm mang lại
   Mấy năm đuổi theo sóng nước mà gặp gỡ
   Gặp kẻ tri âm thỏa lòng xưa
   10. Tử tức (con cái)
   Mạc thán lão lai không tự khổ
   Thùy tri tối hậu nhất song đồng
   Tâm tư cố quốc nguyên trù tướng
   Mỹ tửu túy như xuân cánh nồng
   Dịch:
   Chớ than rằng tuổi già sao lại khổ
   Ai hay cuối cùng có hai đứa trẻ
   Nhớ về cố quốc lòng dạ buôn rầu
   Rượu ngon say khướt ngày xuân càng nồng
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Nhược ngộ Dần Thân phùng Bính Tý
   Thủ thời đa sự thất cơ duyên
   Thanh sơn lục thủy du du tại
   Trầm túy đông phong thượng điếu thuyền
   Dịch:
   Nếu gặp năm Dần năm Thân và năm Bính Tý (2)
   Lúc đó có nhiều việc lỡ cơ duyên
   Nước biếc non xanh còn mãi mãi
   Say với gió đông lên thuyền câu
   (2) Năm Bính Tý thi 60 năm mới gặp 1 lần