QUẺ SỐ 66: TRẠCH ĐỊA TỤY

Quỷ Cốc Tiền Định Số

CANH – KỶ
   1. THIÊN GIÁM TINH
   * Giờ Kỷ Sửu: Cách KHÔ MỘC NHA THÊ
   Dịch: Quạ đậu cây khô
   Giải: Tổ nghiệp điêu linh 凋零 nan dĩ khốc bàng
   Dịch: Tổ nghiệp tàn tạ tan nát khó được nương nhờ
   * Giờ Kỷ Mão: Cách KHÔNG TRỤ QUY VÂN
   Dịch: Mây về hang núi
   Giải: Tân khổ nhất thế lưỡng thủ không không
   Dịch: Một đời cay đắng khổ cực hai tay trắng không trơ trụi
   2. THIÊN XỨNG TINH
   * Giờ Kỷ Tỵ: Cách PHI HOÀNG NHẬP HÒA 禾
   Dịch: Cào cào bay vào ruộng lúa
   Giải: Khủng phùng tiểu nhân ám trung toán kế
   Dịch: Đề phòng kẻ tiểu nhân trong bóng tối mưu toan ám hại
   * Giờ Kỷ Mùi: Cách XUÂN NHẬT QUAN HOA
   Dịch: Ngày xuân xem hoa
   Giải: Tảo niên giao vận bất túc vi bằng
   Dịch: Tuổi trẻ vận tốt không đủ làm bằng chứng tin tưởng
   3. THIÊN ĐỘ TINH
   * Giờ Kỷ Dậu: Cách TẾ LƯU 流 NHẬP HẢI
   Dịch: Dòng nước nhỏ chẩy vào biển
   Giải: Tiểu hữu tài cụ nan thành đại sự
   Dịch: Chỉ có tài năng nhỏ bé khó thành được việc lớn
   * Giờ Kỷ Hợi: Cách HÀN ĐÀM HẠ ĐIẾU
   Dịch: Đầm lạnh buông cần câu cá
   Giải: Bất tẩu nhiệt lộ lao nhi vô công
   Dịch: Không theo đường náo nhiệt khó nhọc mà không công trạng
   4. CÔ NHẠN ĐỚI THƠ Cách
   Tỉnh nội hào quang xạ đẩu ngưu
   Bình sinh y lộc bất năng chu
   Uyên ương lãng vũ tam canh nguyệt
   Dương liễu sâu kinh bán dạ thu
   Cô nhạn truyền thư đa nhiễu mạc
   Phong vân tế hội sự trì lưu
   Quí nhân chỉ tại khôn ly vị
   Dẫn nhĩ đồng đăng bạch ngọc lâu
   Dịch: CHIẾC (l) NHẠN MANG THƯ
   Ánh hào quang trong giếng như lấn át sao đẩu sao ngưu
   Cuộc đời cơm áo chẳng được đây đủ
   Cặp uyên ương biếng múa lúc trăng canh ba
   Cây dương liễu sợ sệt lúc nửa đêm thu
   Nhạn chiếc mang thư sao mờ mịt
   Cái hội long vân sao chậm trễ
   Quí nhân chỉ ở phương Khôn và phương Ly (2)
   Sẽ đưa nàng cùng lên rau bạch ngọc
   (l) Chiếc lá đơn chiếc, lẻ loi
   (2) Phương Khôn là hướng Tây Nam. Phương Ly là hướng Tây
   5. PHÁN ĐOÁN:
   * Thử mệnh bẩm tính thông minh sở vi lỗi 磊落 lạc, ma nan tảo canh biến trì, thân quyến bạc tình xuân mộ tuyết, nhi tôn vô phận kính trung hoa, hảo sự nan thành hung 胸 trung tiến thoái, bình sinh 平生 hảo sự tha đà giai thị mệnh định.
   * Mệnh này tánh chất trời cho sẵn có thông minh, làm việc tài giỏi xuất sắc, lúc tuổi trẻ đã miệt mài trong khó khăn, biến hóa để thay đổi chậm, thân bằng quyến thuộc bạc tình như tuyết chiều xuân, con cháu vô phận như hoa trong kính, việc tốt khó thành trong lòng lưỡng lự trù chừ tiến hay thoái, cuộc đời việc tốt cứ lần lữa kéo dài, đều là do mệnh đã định như vậy.
   6. Cơ nghiệp
   Mạc oán thân sơ bất cửu trường
   Trọng vinh trọng lộc tự phong quang
   Phùng ngưu khuyến mã chung tu hỉ
   Tiếu chỉ tang du tính thi hương
   Dịch:
   Đừng oán bận tình nhân nghĩa sơ chúng được lâu dài
   Nhiều danh vọng nhiều tiền của tự nhiên sẽ được phong quang
   Năm Sửu năm Tuất năm Ngọ những năm đáng mừng
   Cười trỏ vườn dâu họ hàng nổi tiếng thơm
   7. Huynh đệ (Anh em)
   Tử lục phân phân các dị chi
   Nhạn phi Ngô Việt lưỡng thê kỳ
   Tri âm đa thiểu giang hoài thượng
   Thờ hữu cao nhân vị thẩm đề
   Dịch:
   Hai màu tía màu biếc nhưng khác cành
   Nhạn bay qua Ngô Việt hai nơi cách trở
   Thiếu gì bạn từ âm ở sông Giang Hoài
   Sẽ gặp vị cao nhân vì mình mà đề bạt
   8. Hành táng (sự nghiệp)
   Tá thế thành danh diệu tổ tông
   Kê minh khuyển phệ bá cao phong
   Cầm đường nhất khúc giang hoài viễn
   Phong nguyệt thanh quang lạc ý nùng
   Dịch:
   Mượn thế người nên danh vinh diệu tổ tông
   Năm Dậu năm Tuất nương theo ngọn gió
   Mội khúc cầm đường vang vọng ở sông Giang Hoài
   Gió trong trăng sáng ý vui càng nồng
   9. Hôn nhân (vợ chồng)
   Uyên ương đối đối bích ba thâm
   Âu lộ thành quần vãng tế minh
   Oang yến mãn lâm xuân sắc hảo
   Thanh phong minh nguyệt duyệt nhân tình
   Dịch:
   Uyên ương từng cặp ở nơi sóng biếc
   Cò vạc đứng thành đàn sáng chiều
   Oanh yến đầy rừng xuân sắc đẹp
   Gió trong trăng sáng đẹp tình người
   10. Tử tức (con cái)
   Vũ dư phong tĩnh quả tu hi
   Hoa dị bàn đào chiều vãng thì
   Kim ngọc đình tiền ban thái vũ
   Xu đình thi lễ tự trì trì
   Dịch:
   Sau cơn mưa gió tạnh quả thưa thớt
   Hoa lạ trái bàn đào chiều lúc trời chiều
   Vàng ngọc trước nhà màu đẹp rực rỡ
   Vốn giòng lễ giáo qua sân đi chầm chậm
   11. Thu thành (cuối cuộc đời)
   Dần Thân tuế nguyệt mộ đăng sơn
   Sơn thủy du du tỏa cốc quan
   Đê điểu nhất thanh kinh phá mộng
   Lâm gian viên hạc khứ nan hoài
   Dịch:
   Gặp năm tháng Dần Thân chiều lên núi
   Nước non thăm thắm như khóa cửa hang
   Một tiếng chim kêu làm tỉnh giấc mộng
   Vượn hạc ở trong rừng đã đi khó trở lại