QUẺ SỐ 62: TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

CANH – ẤT
   1. THIÊN THAO TINH
   Giờ Ất Sửu: Cách HOẠN CHU ĐẮC PHONG
   Dịch: Thuyền nhà quan được gió
   Giải: Hoạn vận hanh thông trực thượng thanh vân
   Dịch: Vận làm quan hanh thông lên thẳng mây xanh
   Giờ Ất Mão: Cách LÂM VŨ VỌNG TÌNH 晴
   Dịch: Trời mưa dầm mong được tạnh
   Giải: Nhất sinh hiếu hành thiện sự
   Dịch: Một đời ưa thích làm việc thiện
   2. THIÊN ÁO TINH
   Giờ Ất Tỵ: Cách TIỂU CHU NHẬP HẢI
   Dịch: Thuyền nhỏ vào biển
   Giải: Căn cơ thiển bạc phòng hữu khuynh phú chi ngu 虞
   Dịch: Căn cơ nông mỏng phòng có sự nghiêng đổ lo lắng
   Giờ Ất Mùi: Cách HOA VIÊN VŨ THỤ 受
   Dịch: Hoa trong vườn chịu đựng cơn mưa
   Giải: Tiền tài đáo thủ triệt tận
   Dịch: Tiền bạc đến tay rồi hết sạch
   3. THIÊN MÃN TINH
   Giờ Ất Dậu: Cách QUẬT TỈNH CẦU TUYỀN 泉
   Dịch: Đào giếng tìm nguồn nước
   Giải: Kiệt lực doanh mưu chung tất hữu hoạch
   Dịch: Hết sức kinh doanh sau ắt có được
   Giờ Ất Hợi: Cách THU VIÊN MẪU ĐƠN
   Dịch: Cây Mẫu Đơn trong vườn mùa Thu
   Giải: Tuy hữu tài cụ bất hợp thời nghi
   Dịch: Cho dù có đủ tài năng nhưng chẳng thích hợp thời
   4. OANH NGỮ ĐÔNG PHONG cách
   Sơ khước thành thân thân khước sơ
   Chi nam chi bắc phi công phu
   Tri quân bản thị sơn trung khách
   Bạn ngã liêu tòng đô ngoại cư
   Hý thủy uyên ương chung hữu tán
   Thất quần hồng nhạn khó vô thư
   Thời lai mộ khứ thâm cốc lý
   Trưởng đắc kim y nhất cá sồ
   Dịch: OANH MỪNG GIÓ ĐÔNG
   Người sơ trở thành thân người thân trở thành sơ
   Cành nam cành bắc uống phi công phu
   Biết nhà ngươi là khách ở trong núi
   Thì hãy tạm theo ta đến chốn ngoại ô
   Cặp uyên ương giỡn trên nước rồi cũng lìa tan
   Chim hồng chim nhạn lạc bấy há lại không có thơ tín
   Sớm lại chiều qua ở chốn hang sâu
   Nuôi được một con chim non mặc áo vàng
   5. Phán đoán
   * Thử mệnh quyền ư phủ ngưỡng, nội quan bất túc ngoại quan hữu dư tác sự hữu lao nhi vô công, sở vi hữu đầu vô vỹ, tài nhược phù vân tụ tán, thân nhược thu diệp tiêu điều, độc tướng đương phong nan vi địch khiếp, vạn sự tha đà giai thị mệnh mạc 莫 hiềm thời vận đào lai trì.
   * Mệnh này quyền ở cúi đầu ngửng trông, xem bên trong thì không đủ, nhìn bề ngoài thấy có dư, làm việc nhọc nhằn mà lại chẳng có công trạng, làm việc nào cũng có đầu mà chẳng có đuôi, tiền bạc như mây nổi tụ lại rồi tan mất, thân bằng quyến thuộc như lá cây mùa thu tiêu điều rơi rụng lơ thơ, một viên tướng đương đầu khó làm kẻ địch sợ, muôn việc lần lữa chật vật là do mệnh trời, chớ hiềm thời vận về tới chậm.
   6. Cơ nghiệp
   Sơ khước tương thân thân khước sơ
   Ly nam viễn bắc nhiệm an cư
   Tang du chi quế hoa vinh mậu
   Hội hướng tiền hành phủc hữu dư
   Dịch:
   Sơ trở thành thân mà thân lại hóa ra sơ
   Dời nam qua bắc tùy ý đến nơi yên ổn
   Đến tuổi già cây chi cây quê đều tươi tốt
   Có thề hướng về phía trước mà đi phúc có thừa
   7. Huynh đệ (Anh em)
   Phong xuy lưỡng nhạn quá giang biên
   Ngô Vệt phân phi các tự nhiên
   Hạnh hữu ngũ hồ thông đại hải
   Thanh thu vạn lý hải qui nguyên
   Dịch :
   Gió thổi đôi nhạn qua bờ sông
   Bay qua hai nơi Ngô Việt đều tùy ý
   May mà Ngũ hồ lại thông ra bể lớn
   Trời thu xanh biếc muôn dặm trở về nguồn
   8. Hành táng (Sự nghiệp)
   Nhân lai đầu ngã ngã đầu nhân
   Thuẫn tức quang âm quá tảo xuân
   Chung ngộ thiên châu cao quý khách
   Đề huề thanh dự đáo giang tân
   Dịch:
   Người đến theo ta hóa ra ta lại theo người
   Nháy mắt bóng quang âm mùa xuân đã trôi qua
   Kết cục gặp được khách quí ở thiên châu
   Nêu cao danh dự đến bến sông
   9. Hôn nhân (Vợ chồng)
   Thành đôi uyên ương du bích thủy
   Vãng lai nhất chích nhiễu thanh ba
   Bạch vân bản thị vô tâm vật
   Cô nguyệt thanh quang chiều Ngũ hồ
   Dịch:
   Uyên ương sóng đôi bờ trên nước biếc
   Đến chiều còn một con vờn sống xanh
   Mây trắng kia vốn là giống vô tình
   Trăng tỏa hào quang chiều Ngũ hồ
   10. Tử tức (Con cái)
   Xuân tận hoa tàn lưu tử tại
   Phân phân đình hạ lộng thanh hoàng
   Phùng long kiến khuyển đa vinh quí
   Đơn quế phu vinh cận ngự hương
   Dịch:
   Xuân hết hoa tàn để quả lại
   Phơi phới dưới sân màu xanh chen màu vàng
   Năm Thìn năm Tuất được nhiều quí hiển
   Cây đơn quế khoe thơ gần hương thơm nhà vua
   11. Thu thành (Cuối cuộc đời)
   Phùng thời chính tại cửu cửu thượng
   Hưu thuyết chư dương vận bất thông
   Thiện thế thiện nhân đa phúc khánh
   Lâm tuyền nhất tiếu túy xuân phong
   Dịch:
   Gặp thời chính vào lúc chín, chín (l)
   Đừng nói tại sao năm Hợi năm Mùi vận chẳng thông
   Đời lành người lành gặp nhiều phúc khánh
   Cất tiếng cười say với gió xuân ở chốn lâm tuyền
   (1) Chín là số 9, ở đây hai lần số 9