QUẺ SỐ 56: BÁT THUẦN KHÔN

Quỷ Cốc Tiền Định Số

KỶ – KỶ
1. THIÊN THOÁI TINH
* Giờ Kỷ Sửu: Cách VŨ QUÁ CHỦNG TÚC
Dịch: Qua cơn mưa trồng lúa
Giải: Thiếu niên bất cần học lão đại đồ thường bi
Dịch: Tuổi trẻ không siêng năng học già rồi sẽ hối hận
* Giờ Kỷ Mão: Cách THẠCH THƯỢNG TÀI LIÊN
Dịch: Trồng cây sen trên đá
Giải: Vị tử tôn tác ngưu mã đồ tự lao khổ
Dịch: Vì con cháu mà làm thân trâu ngựa, tự rước những lao nhọc khổ cực
2. THIÊN HỐI TINH
* Giờ Kỷ Tỵ: Cách BẢO KIẾM TÀNG HẠP
Dịch: Gươm báu giấu trong tráp
Giải: Tuy hữu cao tài nan vọng dụng thế
Dịch: Tuy có tài cao khó mong muốn được đời dùng đến
* Giờ Kỷ Mùi: Cách XUÂN MỘC TÚC ĐIỂU
Dịch: Mùa xuân chim đậu trên cành cây
Giải: Thiện ư doanh mưu y thực vô ưu
Khéo kinh doanh khỏi lo cơm áo
3. THIÊN ĐƯƠNG TINH
* Giờ Kỷ Dậu: Cách ĐÔNG LĨNH TU TRÚC 修竹
Dịch: Cây trúc cao trên đỉnh núi trong mùa Đông
Giải: Tiêu dao khoái lạc vãn cảnh phả giai
Dịch: An nhàn sung sướng cảnh về già càng thêm tốt đẹp
* Giờ Kỷ Hợi: Cách BÌNH 缾 NỘI MAI HOA
Dịch: Hoa mai trong bình
Giải: Nhất sinh bão khuất vô đắc chí chi thời
Dịch: Suốt đời ôm ấp hoài bão không lúc nào đắc ý
4. TẠC THẠCH KIẾN NGỌC Cách
Tạc thạch xuyên thờ phùng đoan ngọc
Quái ngọc khô tùng bàng tu trúc
Hồng nhạn thiên biên cô độc phi
Âu lộ sa biên kiều nhất túc
Viên lâm thị xứ phát xuân hoa
Duy ngã đình tiền trưởng thu cúc
Bách niên thế sự vấn như bà.
Bán tử bán tôn tương bạn trú
Dịch: ĐÀO ĐÁ THẤY NGỌC Cách
Lúc đang đào đá bắt gặp ngọc quí
Ngọc lạ cây tùng khô dựa vào cây trúc
Bên trời chim hồng chim nhạn bay lẻ loi
Cò vạc bên bãi cát kiễng một chân
Vườn rừng là nơi hoa xuân nở
Chỉ có ở trước sân ta cây cúc vàng lớn trong mùa thu
Thử hỏi trăm năm thế sự như thế nào
Cùng ở với con rể và cháu ngoại
5. PHÁN ĐOÁN
* Thử mệnh thâm tư viễn lự doanh viễn lao tâm, khẩu trực tâm từ tính cao khí ngạnh, thụ bất đắc khúc trực ngất bất đắc tiện nghi, phân thanh lý bạch, bổ đỏan khiên trường, vi sự dị thành vu nhân bất túc, thê nhược nan vi tử đa bất tú, công danh hư tài bạch háo, xảo lý đắc lai không lý khứ, thủy thượng phù bào nhỡn tiền hoa.
* Mệnh này lo nghĩ sâu xa kinh doanh nơi xa nhọc lòng, miệng thẳng lòng lành chịu không nổi uốn cong bẻ thẳng, nuốt không nổi tiện nghi tạm bợ, chia rõ xanh trắng thêm ngắn bớt dài, làm việc dễ thành với người không đủ, vợ yếu đuối khó làm nên, con phần nhiều không tốt, công danh chỉ là hư ảo tiền bạc thì hao tổn, đựơc sự khéo léo tinh xảo lại đi mất trở thành không, bọt bèo nổi trên nước trước mắt chỉ là phù hoa .
6. Cơ nghiệp
Kinh cúc lâm trung trưởng cự tài
Tiệm khai cơ địa khởi lâu đài
Thiên biên thập tải không tiêu tức
Cấp trạo nguyệt minh qui khứ lai
Dịch:
Cây lớn mọc lên trong rừng gai góc
Dần mở mang nền móng xâu dựng lâu đài
Mười năm ven trời vắng tin tức
Dưới mảnh trăng mái chèo gấp đi cùng lại
7. Huynh đệ (Anh em)
Tứ nhạn tà phi Ngô Việt xứ
Nhất thanh hạc lệ hướng thiên biên
Tri âm đa cận thanh quang sắc
Tinh trạo ngư chu tự vãng hoàn
Dịch:
Bốn con chim nhạn bay chếch về phía Ngô Việt
Một tiếng bạc kêu lơ lửng phương trời
Cùng bạn tri âm tới gần chốn thanh quang
Thuyền câu phẳng lặng tự trôi về
8. Hành táng (sự nghiệp)
Vô tâm ỷ ngọc túc than dương
Ngạc phá phương mai lộng lãng hương
Tam ngũ dạ thâm qui nguyệt bạ
Tiếu đàm phong nguyệt hướng tiêu tương
Dịch:
Không có ý đem ngọc ra mà đùa giỡn
Tung cánh boa mai mùi hương thơm phức
Đêm khuya mồng ba mồng năm trăng đã lặn
Vui đùa trăng gió bến tiêu tương
9. Hôn nhân (vợ chồng)
Sa chữ uyên ương triệu hợp hoan
Bạch tần hồng lục hý an toàn
Nhật biên hồi thủ hôn nha tán
Độc tự thanh ngâm mộng diệc nhàn
Dịch:
Trên bến cát buổi sáng cặp uyên ương cùng vui vẻ
Rau tần rau lục phất phơ như giỡn với cò vạc
Bên chiều quay đầu thấy con quạ đã bay đi
Một mình ngâm nga cảnh nhàn như giấc mộng
10. Tử tức (con cái)
Hà Hoa đóa đóa phát tà chi
Nhất quả thê lương phong vũ thời
Kham tiếu vãng lai giang thượng khách
Dạ văn ngư địch bàng khê xuy
Dịch:
Nhiều bông sen nở trên cànhg chênh chếch
Một quả (sen) nhìn thê thảm trong lúc gió mưa
Đáng cười những khách qua lại trên sông
Nửa đêm nghe tiếng kèn ngư phủ vẳng từ khe núi
11. Thu thành (cuối cuộcđời)
Nhân do tâm sự bất thanh nhàn
Khuyển phệ kê minh thủy xuất quan
Vạn lý giang san thu lãm hậu
Tiêu điêu vật ngoại ngọc lan can
Dịch:
Bởi vì tâm sự chẳng được an nhàn
Năm Tuất năm Dậu hãy ra cửa ải
Sau khi muôn dặm non sông đã lọt vào tầm mắt
Dựa trên lan can ngọc tâm hồn tiêu diêu ngoài cõi vật chất