QUẺ SỐ 46: SƠN ĐỊA BÁC

Quỷ Cốc Tiền Định Số

MẬU – KỶ

 

THIÊN PHÁ TINH

 

Giờ Kỷ Sửu: Cách NGUYỆT LÂU TỰ CHƯỚC

 

Dịch: Ngồi trên lầu cao xem trăng tự rót rượu uống

 

Giải: Xử phồn hoa chi cảnh, lập chí nghi kiên

 

Dịch: Ở trong cảnh giầu sang lập chí nên bền vững

 

Giờ Kỷ Mão: Cách THUẬN THỦY HÀNH CHU

 

Dịch: Thuyền đi thuận dòng

 

Giải: Nhất sinh tác sự, hào vô trở ngại

 

Dịch: Một đời làm việc không một chút nào trở ngại

 

 

 

THIÊN YẾM TINH

 

Giờ Kỷ Tỵ: Cách XUÂN ViÊN HỒ ĐiỆP

 

Dịch: Bướm ở trong vườn Xuân

 

Giải: Sinh trưởng phú quý chi gia y thực vô ưu

 

Dịch: Sinh ra lớn lên trong gia đình phú quí không lo lắng về việc cơm áo

 

Giờ Kỷ Mùi: Cách HƯ THẢO Vi HUYNH

 

Dịch: Cỏ mục làm đom đóm

 

Giải: Hung đa trí mưu chuyển bại vi thắng

 

Dịch: Lòng nhiều mưu trí chuyển bại thành thắng

 

 

 

THIÊN MY TINH

 

Giờ Kỷ Dậu: Cách VÂN KHAi KiẾN NGUYỆT

 

Dịch: Mây mở ra nhìn thấy trăng

 

Giải: Hoạn nạn dĩ quá giai cảnh túc tại mục tiền

 

Dịch: Hoạn nạn đã qua cảnh đẹp hiện ra trước mắt

 

Giờ Kỷ Hợi: Cách HẢi NGUYỆT THU ĐÀM

 

Dịch: Trăng trên biển ao đầm vào mùa thu

 

Giải: Hung hoài khoáng đạt vạn sự vô ưu

 

Dịch: Lòng dạ rất rộng rãi cởi mở mọi việc chẳng lo nghĩ

 

 

 

PHÁN ĐOÁN

 

* Thử mệnh cô trung hữu khắc, đoản xứ cầu trường, chỉ nghi chuế xá qúa phòng, bất khả kháo thân thủ tổ, tân khổ tảo phát phúc trì, vị lão tiên đầu bạch vô sự sinh phiền não, thiên kiện sự nan thành, tam ban 班 sự bất liễu, đệ nhất cước đầu trái 債, đệ nhị mạ Phật trái, đệ tam nhi nữ trái, kiến Phật trương my nộ mục, phùng thần ngang đầu bất bái, nhược yếu hậu thành tu kiến phá, hoàng liên căn thượng sinh cam thảo, thùy tín cam tòng khổ thượng lai.

 

* Mệnh này trong cô độc đơn chiếc có xung khắc, chỗ ngắn cầu dài, chỉ nên ở rể làm con nuôi, không thể nương nhờ tổ nghiệp, sớm khổ cực cay đắng chậm phát phúc, chưa già đầu đã bạc sớm, chẳng việc gì lại sinh ra buồn phiền lo nghĩ, ngàn sự kiện khó thành, ba khu vực phân chia việc chẳng xong, thứ nhất nợ bôn tẩu, thứ nhì nợ mắng chửi Phật, thứ ba nợ con trai con gái, gặp Phật trợn mày trợn mắt, gặp Thần ngang đầu chẳng bái lạy, nếu muốn sau này được thành công, thì nên bị phá hỏng ở lúc trước, trên gốc cây hoàng liên đắng sinh cây cam thảo ngọt , ai tin ngọt lại theo đắng mà ra.

 

 

 

(Cách chung cho người tuổi Mậu sinh giờ Kỷ)

 

KÍCH PHÁ NGỌC HƯỜN cách

 

Ngọc hươu kích phá linh nhân tích

 

Diệu thủ lương công tu bất đắc

 

Khước lai hải thượng thám san hô

 

Thám đắc san hô cao ngũ xích

 

Uyên ương kinh tán nguyệt tam canh

 

Trúc thượng mang hài độc tự hành

 

Lai đào bạch vân sơn đỉnh thượng

 

Dược biều phó dữ Lữ tiên sinh

 

 

 

Dịch: ĐẬP VỠ VÒNG NGỌC

 

Vòng ngọc bị đập vỡ khiến người tiếc

 

Thợ khéo tay nghề sửa lại không được

 

Phải đến vùng bể mà mò san hô

 

Mò được cây san hô cao năm thước

 

Vừa lúc canh ba cặp uyên ương sợ bay tán lạc

 

Gậy trúc hài cỏ đi một mình

 

Lên tận đỉnh núi Bạch vân

 

Đem trao bầu thuộc cho ông Lữ Đồng Tân (1)

 

(l) Lữ Đồng Tân là một trong 8 Vị Tiên y đời xưa

 

 

 

HÀNH TÀNG

 

Hỷ phùng long mã phương sinh dực

 

Ngộ thử kỵ ngưu nhập Phượng thành

 

Kiểm điểm bình sinh công nghiệp sự

 

Phù trì hữu nhật trợ tiến trình

 

Dịch:

 

Mừng gặp năm Thìn năm Dân như mọc thêm cánh

 

Đến năm Tý năm Sửu thì vào Phượng thành (2)

 

Hãy kiểm điểm sự nghiệp thuở bình sinh (như thế nào)

 

Có ngày được giúp đỡ gầy dựng tương lai

 

(2) Thành Phượng hoàng tức là cung vua.

 

 

 

CƠ NGHIỆP

 

Quân hoài chí khí tùy nhân địch

 

Chẩm nại bình sinh vị ngộ thời

 

Nhược ngộ trư dương đầu giác thượng

 

Đầu lô biến hóa thượng thiên thê

 

Dịch:

 

Nhà ngươi hoài bão chí lớn địch nổi với thiên hạ

 

Tiếc răng bình sinh chưa gặp thời

 

Nếu gặp nơi đầu sừng con heo con dê (1)

 

Chiếc đầu lâu biến hóa lên thang mây

 

(1) Heo (Hợi), Dê (Mùi)

 

 

 

HUYNH ĐỆ

 

Cuồng phong xâu vũ đả lê hoa

 

Tam nhạn phân phi Ngô Việt khứ

 

Thừa chu cải đạo vấn giang mai

 

Độc hướng tiêu tương yên vũ xứ

 

Dịch:

 

Mưa to giỏ lớn vùi dập hoa lê

 

Ba con chim nhạn chia lìa hai nơi Ngô Việt

 

Cưỡi thuyền cái mái chèo hỏi thăm hoa mai ở bên sông

 

Một mình hướng về nơi khói mưa ở bến tiêu tương

 

 

 

HÔN NHÂN

 

Ngọc đường chính hảo cao ca vũ

 

Bất giác uyên ương vũ hậu phi

 

Duy hữu thảo đường âu lộ thịnh

 

Thanh tùng thủy trúc tự tương y

 

Dịch:

 

Đang ca múa vui vẻ ở chốn Ngọc đường

 

Không ngờ cặp uyên ương bay đi trong cơn mưa

 

Chỉ còn cò vạc ở lại chốn nhà cỏ

 

Tùng xanh trúc biếc tự nương tựa nhau

 

 

 

TỬ TÚC

 

Xuân mộ hoa tàn lưu nhất quả

 

Khởi kỳ nhất quả tôi hy kỳ

 

Âm công tương trợ nên tiền trình viễn

 

Chấn động gia thanh nhật mộ huy

 

Dịch:

 

Cuối xuân hoa tàn chỉ còn lại một quả

 

Nhưng quả ấy lại rất lạ lùng hiểm có

 

Nhờ âm đức (của tổ tiên) phù trợ nên tương lai rất sáng sủa

 

Tiếng nhà vang dậy lúc chiều hôm

 

 

 

THU THÀNH

 

Tá vấn bách niên thân hậu sự

 

Nhược phùng xà khuyển tống qui trình

 

Sơn trung viên hạc hoàn vi lữ

 

Minh nguyệt thanh phong thức thử tình

 

Dịch:

 

Thử hỏi sự trăm năm thân thế (của ta) sau này ra sao

 

Đến năm Ty năm Tuổi như tiễn đường về

 

Vượn hạc trong núi lại là bạn

 

Chỉ có trăng sáng gió trong biết lòng này.