QUẺ SỐ 43: SƠN HỎA BÍ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

MẬU – BÍNH

 

KHIÊN NGƯU TINH

 

Giờ Bính Tý: MiNH PHONG XUY PHÀM

 

Dịch: Cánh buồm gặp gió

 

Giải: Đắc nhân đề bạt sự tất thành công

 

Dịch: Gặp người đề bạt sẽ thành công mọi việc

 

Giờ Bính Dần: ỦNG LÝ MiNH CẦM

 

Dịch: Đàn kêu trung hũ

 

Giải: Ám trung tác sự lao nhi vô công

 

Dịch: Làm việc mờ ám dù nhọc mà không công

 

 

 

THIÊN LANG TINH

 

Giờ Bính Thìn: NGUYỆT HẠ MiNH CẦM

 

Dịch: Gảy đàn dưới trăng

 

Giải: Nhất sinh khoái lạc tiêu diêu tự tại

 

Dịch: Suốt đời sung sướng thong thả an nhàn

 

Giờ Bính Ngọ: Y CẨM DẠ HÀNH

 

Dịch : Áo gẫm đi đêm

 

Giải: Đắc ý chi thời bất hỷ phô trương

 

Dịch: Lúc đắc ý chớ nên phô trương

 

 

 

THIÊN KHÔNG TINH

 

Giờ Bính Thân: CÔ CHU NHẬP HẢi

 

Dịch: Thuyền lẻ vào bể

 

Giải: Cô lập vô trợ tu phòng hoạn nạn

 

Dịch: Một mình không ai giúp đề phòng hoạn nạn

 

Giờ Bính Tuất: THẠCH THƯỢNG TiÊN CAO

 

Dịch: Chiêm mỡ trên đá

 

Giải: Tác sự nan lập căn cơ

 

Dịch: Làm việc không có cơ sở

 

 

 

PHÁN ĐOÁN:

 

* Thử mệnh như chi Lan tú ư nham thượng, Tùng Bách mậu ư sơn gian trú xứ u viễn cô cao, căn vô hiện thực, tuy nhiên tổ phụ cơ cừu hảo xạ nại sinh lai vị đắc thờ, lục thân bất đắc lực, huynh đệ diệc tương sơ, nhược phi xuyên nhĩ ly thân, định chủ thương tàn đới phá, tu kín qua kiềm chung đới khổ, thế gian vạn vật thập toàn nan,

 

* Mệnh này như cành Lan đẹp ở trên núi hiểm, cây Tùng cây Bách tốt ở trong non ở nơi u ám xa xăm cô đơn cao vời vợi, gốc không bền thực, tuy thế cha ông để lại tốt, tại sao từ lúc sinh ra lại chưa gặp được thời?, nếu không xỏ tai lìa cha mẹ, định sẽ bị thương tật tàn phá tướng, nên tin rằng quả dưa ngọt sau pha đắng, thế gian muôn vật khó thập toàn

 

 

 

(Cách chung cho 6 giờ)

 

HỒNG NHẠN THẤT QUẦN Cách

 

Nhị thiên lý ngoại thủy liên vân

 

Hoài hải phong cao nhạn thất quần

 

Bối hậu thị phi tùy xứ hữu

 

Thủ đầu danh lợi trục thời tân

 

Như kim gia phú phi vi phú

 

Tha nhật thân bần khởi thị bần

 

Nhân đắc thủy biên công tử lực

 

Xanh hoàng thanh lý ngọc lâu xuân

 

 

 

Dịch: HỒNG NHẠN LẠC ĐÀN

 

Ngoài hai ngàn đám mây nước bao la

 

Nơi sông ngoài bể lớn gió cao nhạn lạc bầy

 

Ở sau lưng lắm chuyện thị phi

 

Danh lợi ở tầm bàn tay luôn luôn đổi mới

 

Như nay người được giàu đừng cho là giàu

 

Ngày sau thân có nghèo đâu phải là nghèo

 

Nhờ được quí nhân giúp đỡ ở chốn ven sông

 

Tiếng xanh ca âm vang ở lầu ngọc, lúc trời xuân.

 

 

 

HÀNH TÀNG (Sự Nghiệp)

 

Công danh tất toại kim mộc lộc

 

Ngộ khuyển hoàn đương hữu phúc kỳ

 

Tưởng đáo uy quyền thành lập xứ

 

Thanh danh vạn lý dạo tương nghi

 

Dịch:

 

Cống danh được toại nguyện hướng lộc nhờ Vua

 

Năm Tuất chính là thời kỳ được hướng phúc

 

Hãy nghĩ đến nơi xây dựng uy quyền

 

Tên tuổi vang lừng muôn dặm cũng nên

 

 

 

CƠ NGHiỆP

 

Tường ngoại đào hoa mạo lâm vũ

 

Di lai tu tín biệt sinh nhai

 

Tri âm đa thiểu tây giang nguyệt

 

Hổ phấn long phi tái khởi gia

 

Dịch :

 

Ngoài tường hoa đào gặp mưa dầm

 

Dời đi để tìm cuộc sinh nhai khác

 

Bạn bè nhiều ít vầng trăng sông Tây giang

 

Năm Dân năm Thìn việc nhà lại hưng khởi

 

 

 

HUYNH ĐỆ (Anh em)

 

Tự hận nhất thân ly thân viễn

 

Thiên biên tam nhạn các phân phi

 

Bạch tần hồng lục thu giang khoát

 

Vân trạo ngư chu đáo sở nghi

 

Dịch:

 

Buồn thay thân ta xa cách người thân

 

Ba con chim nhạn ở bên trời xa lìa nhau

 

Cỏ tần trắng cỏ lục đỏ ở bên sông thu rộng

 

Buổi chiều mải chèo ngư phủ được chỗ vừa ý

 

 

 

HÔN NHÂN (Vợ chồng)

 

Châu liêm bất phóng yến phi vũ

 

Liễu ngoại oanh sồ doanh cố chi

 

Thu quế hữu hương nham bạn phát

 

trạc hiềm hoa lãnh nhật trì trì

 

Dịch:

 

Rèm châu chẳng buôn yến bay múa

 

Ngoài cây liễu oanh non làm tổ trên cành cũ

 

Cây quê mùa thu phát hương thơm ở bờ núi

 

chớ hiềm hoa lạnh lẽo ngày trôi chầm chậm

 

 

 

TỬ TỨC (Con cái)

 

Xuân phong đào lý tướng chi phát

 

Thu thâm nhất quả dã ưng da

 

Tùng quân phong nguyệt quang âm tốc

 

Độc hướng minh hinh tự tiếu ca

 

Dịch:

 

Gặp gió xuân hai cành đào lý nở hoa

 

Cuối thu một quả đã là nhiều

 

Tùng trúc gió trăng quang âm đi mau

 

Hướng về phía hương thơm mà cười hát

 

 

 

THU THÀNH (Mãn cuộc)

 

Vãn lộ phương tri viên dữ thố

 

Kiều đầu tương vọng thị tiền trình

 

Nhược phùng cấp trạo tây giang nguyệt

 

Miễn trí tai nguy khốn khổ thành

 

Dịch:

 

Hỏi đường đi đã hay năm Thân hay năm Mão

 

Nghểnh cổ nhìn về đường sắp tới

 

Nếu gặp thuyền chèo gấp dưới trong sông Tây giang

 

Khỏi đến nổi vướng tai nguy nơi thành quách điêu tàn