QUẺ SỐ 42: SƠN PHONG CỔ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

MẬU – ẤT

 

XA KỴ TINH

 

Giờ Ất Sửu : TÙNG BÁ LÃNG VÂN

 

Dịch: Tùng bá cao ngất trời

 

Giải: Chí khí kiên cường sự nghiệp hoành đại

 

Dịch: Chí khí kiên cường sự nghiệp rất lớn

 

Giờ Ất Mão: XUÂN NHẬT KHAi HOA

 

Dịch: Hoa nở ngày xuân

 

Giải: Tráng niên đắc y vô ưu vô lự

 

Dịch: Tuổi trung niên đắc ý không lo không nghĩ

 

 

 

THIÊN BIỀN TINH

 

Giờ Ất Tỵ: MiNH PHỤNG THÊ 栖 TRÚC

 

Dịch: Phụng gáy trên cây trúc

 

Giải: Bảo viễn đại chi chí vô an ổn chi gia

 

Dịch: Hoài bão chí lớn không nơi yên ổn

 

Giờ Ất Mùi: HÀN NHẬT ẨM THỦY

 

Dịch : Uống nước trời lạnh

 

Giải: Xử cảnh tuy bần lập chí bất cẩu

 

Dịch: Cảnh ngộ tuy nghèo nhưng lập chí không cẩu thả

 

 

 

THIÊN CỐC TINH

 

Giờ Ất Dậu: KHÔNG BÀN HẠ TRỢ

 

Dịch: Xếp đũa bàn trống

 

Giải: Tiên các hậu hung hữu phá gia chi tượng

 

Dịch: Trước lành sau dữ là biểu tượng phá gia

 

Giờ Ất Hợi: HOA ViÊN BÀi YẾN

 

Dịch: Bày tiệc vườn hoa

 

Giải: Mục tiền vinh hoa bất túc vi hằng

 

Dịch: Trước mắt thấy vinh hoa nhưng không đủ tin cậy

 

 

 

PHÁN ĐOÁN:

 

* Thử mệnh hung trung phản cát, tiếu lý thành ưu, kiện kiện phạm thóai thần, đầu đầu kiến thành phá, thân tình vô nghĩa bằng hữu đa duyên, tính quai lanh lợi tự nhiên thiên phó, xích tâm báo quốc phản tao tam xích chi chu, kiệt lực ư nhân chỉ tác nhất tràng thoại thuyết, khất trật xứ hữu nhân phù trì, đắc tiền xứ hữu quỷ lai thâu, thê cung chuẩn bị cổ bồn ca, nhi nữ đề phòng ly biệt khốc, mệnh nguyên tai hối 晦, tổ nghiệp tiêu 消 ma , khả giới tam yểm ngũ huân.

 

* Mệnh này trong hung xấu thành cát lành, trong vui cười trở thành lo âu, đầu mối nào cũng thấy thành rồi lại phá hỏng, mọi sự kiện nào cũng bị phạm phải Thoái thần, mọi đầu mối nào cũng thấy thành công rồi lại bị phá hỏng, tình quyến thuộc không có ân nghĩa, bạn hữu lại có nhiều duyên tình, tánh trái ngược trời phú cho nhanh nhẹn tự nhiên, tấm lòng son báo đền ơn nước mà lại bị ba thước gươm chém chết, hết sức với người rồi chỉ làm một tràng dài chuyện vãn, nơi vấp ngã có người nâng đỡ, nơi làm ra được tiền tài có quỷ tới thâu, cung thê chuẩn bị vỗ bồn mà hát “Trang Tử giả chết thử lòng vợ”, con trai con gái đề phòng khúc ly biệt, mệnh nguyên bị tai ương tai vạ nguy nan tối tăm mù mịt, tổ nghiệp tan mất hết, khá nên trai giới ba chán ghét năm tanh hôi

 

Tam yểm: thịt trâu, thịt bò, thịt chim nhạn. Ngũ huân: Ngũ vị tân là 5 thứ có vị cay nồng và mùi hôi. (Tân là cay). Ngũ vị tân gồm : hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén. Ngũ huân hễăn chín thì phát sanh lòng dâm, ăn sống thêm nóng giận, phàm là kẻ tu hành đều chẳng được ăn.)

 

 

 

HẠC LẬP THANH TÙNG Cách

 

Hạc lập thanh tùng thê vị thành

 

Vô ngôn chung nhật ám thương thần

 

Phong cuồng diệp lạc chi nan định

 

Lãng hám cô chu lôi bất bình

 

Nhạn khiếu tây phong đa lãnh lạc

 

Uyên miên lưỡng ngạn vi an ninh

 

Bất nhu thu thập thanh chiên khởi

 

Tẩu nhập vân trung cải tính danh

 

 

 

Dịch:

 

HẠC ĐỨNG TRÊN CÂY TÙNG

 

Hạc đậu trên cây tùng đứng chưa yên

 

im lặng suốt ngày tinh thần thương tổn

 

Trận cuồng phong lá rụng và cành lắc lư

 

Sóng đập mạn thuyền mái chèo không ngừng

 

Chim nhạn múa trước gió tây thật là lạnh lẽo

 

Chim uyên ngủ hai bên bờ chưa được yên ổn

 

Chẳng bằng thu cuốn chăn mền

 

Bay vào trong mây đổi họ tên

 

 

 

HÀNH TÀNG (Sự nghiệp)

 

Phùng dương kiến khuyển ưu trung hỉ

 

Kỵ mã khiên ngưu cát hậu trung

 

Hạnh hữu ngũ hồ minh nguyệt tại

 

Tái tri điếu tuyến bích ba trung

 

Dịch:

 

Gặp năm Mùi năm Tuất trong cái lo có cái mừng

 

Gặp năm Ngọ năm Sửu sau cái may là cái rủi

 

May ánh trăng còn chiến ử ngũ hồ

 

Lại cầm giây câu thả trong sóng biếc

 

 

 

CƠ NGHiỆP (Cơ nghiệp)

 

Tên lập cao cương ngọa tứ cai

 

Tiệm khai kinh cức khởi lâu dài

 

Nhất thanh lôi chấn kinh thiên ngoại

 

Dẫn lãnh quần tiên xuất động lai

 

Dịch:

 

Đứng trước đồi cao bốn phương hoang vu trải rộng

 

Dẹp hết gai góc để xây dựng lâu đài

 

Một tiếng sấm động rền khắp phương trời

 

Dẫn dắt bầy tiên ra khỏi động

 

 

 

HUYNH ĐỆ (Anh em)

 

Thu phong nhạn quá phi tam chích

 

Vân trận giá thiên khứ nhiễu mang

 

Ngô Việt tiêu tương phong cảnh biệt

 

Vãng lai liễu ngoại ái mai hương

 

Dịch:

 

Gió thu ba con chim nhạn bay qua

 

Mây dăng kín trời lối đi mờ mịt

 

Ngô Việt tiêu tương phong cảnh mỗi nơi một khác

 

Qua lại phía ngoài núi mùi thơm hoa mai rất đáng yêu

 

 

 

HÔN NHÂN (Vợ chồng)

 

Đới vũ đào hoa xuân nhật mộ

 

Liễu âm thâm xứ lão long ngâm

 

Thanh phong minh nguyệt bất tu mãi

 

Đáo xứ mai biên tuế nguyệt thâm

 

Dịch:

 

Hoa đào thẫm mưa vào lúc chiều xuân

 

Rồng già ngâm nơi sâm thảm dưới bóng liễu

 

Cần gì phải mua trăng sáng với gió trong

 

Đến bên gốc mai năm tháng dài

 

 

 

TỬ TỨC (Con cái)

 

Phùng thố ngộ long tiền chiến mã

 

Nhất thanh lôi chấn khởi thiên cung

 

Chi lan thế hạ đa vinh mậu

 

Đình quế phân phương lộng vãng phong

 

Dịch:

 

(Tuần tự) gặp năm Mão năm Thìn rồi đến năm Ngọ

 

Một tiếng sẫm vang ở cung Trời

 

Hoa chi hoa lan ở dưới thềm rất tươi tốt

 

Cây quê trước sân thơm ngát giỡn với gió chiều

 

 

 

THU THÀNH (Mãn cuộc)

 

Tứ diện la võng ngư đắc thấu

 

Hốt nhiên bình địa thượng vân thê

 

Tri âm chính hảo đồng huề thủ

 

Nguyệt thượng co sơn văn tử qui

 

Dịch:

 

Bốn bề là lưới cá lọt được

 

Bỗng nhiên từ mặt đất bước lên thang mây

 

Cùng bạn tri âm dắt tay nhau

 

Trăng lên đỉnh núi vọng nghe tiếng chim tử qui