QUẺ SỐ 41: SƠN LÔI DI
Quỷ Cốc Tiền Định Số
MẬU – GIÁP
THIÊN XƯƠNG TINH
Giờ Giáp Tý: Cách NHAM ĐẦU TẨU MÃ
Dịch: Ngựa chạy đầu non
Giải: Mạo hiểm tiến hành tất đa gặp thất bại
Dịch: Mạo hiểm tiến hành chắc gặp thất bại
Giờ Giáp Dân: Cách THiÊN 扁 CHU QUÁ HẢi
Dịch: Thuyền nhỏ qua bể
Giải: Tiểu hữu thông minh nan thành đại sự
Dịch: Có đôi chút thông minh khó thành việc lớn
THIÊN NAM TINH
Giờ Giáp Thìn: Cách CỐC VŨ TÀi HOA
Dịch: Trông hoa vào tiếc cốc vũ
Giải: Nhất sinh vô khổ bộ bộ cao thăng
Dịch: Suốt đời không khổ từng bước lên cao
Giờ Giáp Ngọ: Cách TƯỜNG ĐẦU TẨU MÃ
Dịch: Ngựa chạy trên đầu tường
Giải: Hoạn nạn trùng trùng thốn bộ nan thành
Dịch: Hoạn nạn đầy dẫy bước lên một bước cũng khó
THIÊN TRUNG TINH
Giờ Giáp Thân: Cách MÔN TiỀN PHÓNG HẠC
Dịch: Thả hạc trước cửa
Giải: Tuy hữu tác vi tích vô đại chí
Dịch: Dù hoạt động được tiếc rằng không có chí lớn
Giờ Giáp Tuất: Cách MiNH HUYỀN LiỄU ÂM
Dịch: Gảy đàn dưới bóng liễu
Giải: ưu du lâm hạ nạn ngộ tri âm
Dịch: Ngao du trong rừng khó gặp bạn tri âm
PHÁN ĐOÁN:
• Thử mệnh tác sự cương trực, sở vi tường thẩm, tâm vô tư khúc, tính nhược phong lôi, nhất phiến từ bi tâm, tâm phân thị phi thiệt, ngộ quý nhân bởi tửu bối ca, Kiện kiện tự lao, ban ban tự lịch, di Đào tiếp Lý, kỷ phiên khổ xứ tao thương, hóan diệp di căn, đa hứơng thành trung kiến phá, di hoa triết liễu phương vi nghiệp, cách cố đỉnh tân nguyên thị mệnh,
• Mệnh này làm việc thẳng thắn, mọi việc làm đều xem xét tinh tường, tâm không riêng rẽ quanh co, tính nhanh nhạy như gió như sấm, một tấm lòng từ bi, tâm phân biệt thi phi miệng lưỡi nói ra phải trái, gặp quý nhân bồi tiếp ca hát rượu trà, mọi sự kiện tự nhọc nhằn, mọi phương diện tự trải qua, đem cây Đào tiên ghép tiếp vào cây Lý, mấy phen nơi khổ lại gặp đau thương, đổi lá thay gốc, phần nhiều thấy trong thành lại vỡ, rời hoa triết liễu mới là nghiệp, đổi cũ thay mới ấy là gốc mệnh
TIÊN HẠC LĂNG VÂN cách
Đại sự trên tòng tiểu sự thành
Thâm sơn tùng bách lão đài thanh
An cư tu đãi mã đề kiện
Tâm loạn đương tòng hỗ vĩ khinh
Nhạn lạc bình sa đa nhiễu mạc
Uyên ương tịnh mỹ hốt phi kinh
Nhược hoàn vấn ngã tiền trình sự
Vũ thụ hoa khai nhất tử thành
Dịch: HẠC TIÊN BAY TẬN MÂY XANH
Trước khi thành việc lớn phải xong việc nhỏ
Tùng bách ở chốn núi sâu rêu bám đặc xanh
Muốn ở yên phải đợi đến năm Ngọ
Lòng rối phải chờ cuối năm Dần mới nhẹ bớt
Nhạn sa bãi cát thật là mờ mịt
Cặp uyên ương đang đẹp chợt sợ bay mất
Nếu hỏi ta về sự nghiệp tương lai
Trời mưa hoa nở được một quả
HÀNH TÀNG (Sự Nghiệp)
Tự kim đặc ngộ âm nhân lực
Ngộ khuyến phùng chư hỷ tiệm thành
Đắc lộc tự nhiên hưng phúc lai
Côn thăng băng cử khoái bình sinh
Dịch:
Từ nay gặp được sự giúp đỡ của âm nhân
Đến năm Tuất năm Hợi sự vui mừng sẽ hoàn thành
Được lộc tự nhiên thêm hưởng phúc
(Cá) Côn bay (chim) bằng nhẩy thỏa chí bình sinh
CƠ NGHIỆP
Tổ kế tam phần khứ nhị phần
Căn nguyên bất thực nhược tiêu hồn
Đoạt quyên nghi hướng thiên biên khứ
Tự hữu cao nhân đãi cừ luân
Dịch :
Tài sản tổ tiên để lại ba phần bỏ mất hai
Người gốc rễ chẳng thực nên như hồn bay mất
Muốn cướp quyền (quyên Tạo hóa) nên hướng về góc trời mà đi
Sẽ có kẻ quí nhân đợi để đề cử
HUYNH ĐỆ (Anh em)
Thu thâm nhất nhạn cao phi khứ
Phong tặng dương hoa địch vận thanh
Lư vĩ giang biên nhân độc túc
Ngư ca hoán khởi mộng trung kinh
Dịch:
Cuối thu một con nhạn bay đi
Gió thổi canh thu thành điệu kèn trong trẻo
Lau lách bên sông người ngủ một mình
Khúc ca chàng ngư phủ như làm tỉnh giấc mộng kinh hoàng
HÔN NHÂN (Vợ Chồng)
Quân kim nhược vãn tùng mộng sự
Cáp tựa đào hoa mãn hậu thôn
Hữu khoái uyên ương tương bối lập
Tang du quan cái khước trùng hôn
Dịch:
Nay nhà ngươi muốn hỏi giấc mộng cây tùng
Giống như hoa đào nở đầy ở thôn sau
Đừng lấy làm lạ sao cặp uyên ương quay lưng lại nhau
Cảnh gia lại mũ lọng cưới vợ lần nữa
TỬ TỨC (Con cái)
Phong xậu vũ trung đào lý phóng
Tam hoa nhất quả ngộ thu tồn
Toàn bằng âm chất tài bồi lực
Chủng thực tùng thu hỷ hữu nhân
Dịch :
Hoa đào hoa lý trong cơn mưa gió
Ba hoa một quả đến mùa thu còn
Đều nhờ âm đức của tổ tiên vun trồng
Mừng có người trồng được cây tùng cây thu
THU THÀNH (Mãn cuộc)
Ngộ khuyến kiến ngưu ưu biến hỷ
Phùng long khứ xứ tất phùng kinh
Hổ đâu xà vĩ kinh ưu chí
Viên hạc tùng hoàng cộng kết minh
Dịch:
Gặp năm Tuất năm Sửu buồn hóa vui
Gặp năm Thìn nên đề phòng sự sợ hãi
Đầu năm Dần cuối năm Tý có sự lo sợ
Vượn hạc tùng trúc cùng thề thốt