QUẺ SỐ 4: LÔI ĐỊA DỰ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

GIÁP – ĐINH

THIÊN TRỆ TINH

Giờ Đinh Sửu: Cách Phù bình vũ lộ (Bèo nổi gặp mưa móc). •Giải: Đắc thất vô định hảo sự bất tường (Được mất không ổn định việc tốt không lâu dài).

Giờ Đinh Mão: Cách Tàn cúc kinh sương (Hoa cúc tàn gặp sương) •Giải: Vãn niên đa nạn hành nhi lực thượng năng chi (Tuổi già gặp nhiều tai nạn may mà có sức chống đỡ).

THIÊN CỔ TINH

Giờ Đinh Tỵ: Cách Kim bình Mẫu đơn (Hoa mẫu đơn cắm trong bình vàng) •Giải: Mục tiền phú quý bất túc vi bằng 憑 (Giàu sang trước mắt không đủ lấy làm bằng chứng)

Giờ Đinh Mùi: cách Úng lý minh oa 蛙 (Ếch kêu trong cái hũ) •Giải: Chí khí tuy đại tuy vô phát triển chi địa (Dù có chí lớn nhưng không có nơi phát triển)

THIÊN HOẢNG TINH

Giờ Đinh Dậu: Cách Không trục tầm vân (Tìm mây trong hang núi) •Giải: Hào vô ỷ bàng lao vô nhi công (Mảnh may không nơi nương tựa khó nhọc chẳng có công)

Giờ Đinh Hợi: cách Trì 池 chiểu nạp lương (Ao hồ mát lành). •Giải: Sở mưu tuy thành đáo để năng miễn thất bại (Mưu dẫu có thành khó tránh khỏi thất bại).

PHÁN ĐOÁN: Thử tinh chiếu mệnh, vi nhân mi thanh mục tú, tính cách hiên ngang, tùy cơ chế độ 制度 tri cao thức đê, phân tôn ty biệt quý tiện, chỉ duyên tâm cao chí đại nhân, thử nhân thế tung tích 蹤跡 bất ninh 寧, đại khoan tiểu cấp khẩn mạn bất quân 勻, vong tiền thất hậu, hội thi vi năng trang sức, dịch phong sương, khước đắc hung trung biến cát, mục hạ ác tinh tương xuất hạn, phúc lâm tài trí tận vô nghi. Mệnh này Sao Thử chiếu mệnh, là người mắt sáng lông mày đẹp, tính cách dũng cảm, sắp đặt thể lệ nhất định cho người noi theo, hiểu được cao thấp phân biệt trên dưới sang hèn, chỉ vì có tâm duyên chí khí là người làm việc lớn; vì thế nên đời người không được yên ổn, việc lớn thì chậm rãi nhỏ thì nhanh chóng, việc cần gấp lại chậm không hoà đều, quên trước mất sau hay lo liệu bày đặt ra ưa sắp đặt sắm sửa, trải qua mưa gió sương lạnh lại được trong xấu biến tốt, dưới mắt sao xấu sắp hết kỳ hạn, phúc tới tài và trí đều hết thảy không còn ngờ. Cách chung cho 06 tuổi XUÂN NOÃN暖 OANH ĐỀ 鶯啼 (Mùa xuân ấm chim Oanh hót) Tổ nghiệp thành thì Đông hựu Tây Lục dương ảnh lý Tử Quy đề Sơn không nguyệt lãnh viên thanh khiết Lâm hạ phong cao Tước quyện 倦 phi Hồng Nhạn vân biên đa đoạn tục Uyên Ương vũ đả lưỡng phân ly Cá chung sinh ý hồng trần ngoại Tranh nại thân do thiệp thị phi :: Thời lớn nghiệp Tổ đông lại tây Bóng liễu xanh xanh chim Quyên hót Núi không trăng lạnh vượn kêu thảm Dưới rừng cao gió Tước mỏi bay Nhạn hồng bên mây nhiều đứt nối Gió mưa vùi dập Uyên lìa Ương Trong cái ý sống ngoài trần bụi Thân còn vương mắc vòng thị phi •Căn cơ lưỡng hiện thành (Căn cơ cả đôi đều hiện thành) •Thế sự lưỡng tương oanh 瀠 (Việc đời đều xoáy quanh) •Vô hạn phong quang hảo (Phong cảnh tốt vô hạn) •Mai hoa tuyết lý xuân (Xuân hoa mai trong tuyết). – Tuổi Giáp cho 06 giờ Đinh: Giờ Tỵ tốt hơn cả, các giờ khác đều vát vả. Khi đã lớn thì tổ nghiệp đã không còn thịnh vượng nữa, chỉ còn tiếc nuối như chim Đỗ Quyên kêu khóc ngày hè (Tử Quy còn có tên là Đỗ Quyên Đỗ Vũ hay chim Quốc. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lủi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương), gia cảnh tiêu điều như nơi hoang sơ nghe vượn kêu thảm thiết, mệt mỏi cố gắng gây dựng lại cơ nghiệp như chim se sẻ bay trước gió cao thổi mạnh, anh em xa lìa, vợ chồng ly tán, dù ý muốn thoát ra ngoài bụi trần, mà vẫn vương mang vòng phải trái cõi đời, rồi sau cơ nghiệp cũng thành đạt, mọi việc trong đời xoáy quanh, thời đến cảnh nhà lại tốt đẹp vô cùng.

HÀNH TÀNG Hu ta 吁嗟tích 積tuế vi truân屯kiển蹇 Nhược ngộ không trung tiệm tị hung Ý tại tiêu diêu trần thế ngoại Tri long phấn phát tại nham trung :: Than ôi năm chứa nhiều trở ngại Nếu gặp trong không chậm tránh hung Ý ở tiêu dao ngoài trần thế Biết rồng phấn phát trong núi hiểm

CƠ NGHIỆP Tổ nghiệp phân phân đông phục tê Lục dương chi thượng tử qui đề Kim quân nhược vấn vinh khô sự Chỉ khủng thiên niên thọ bất tề :: Tổ nghiệp rối bời Đông lại Tây Trên cành liễu biếc chim Quyên hót Nay ngươi nếu hỏi việc tươi khô Chỉ sợ tuổi trời thọ chẳng tầy – Than thở những năm tháng đầy gian nan trở ngại, tổ nghiệp gia đình suy tán đau thương, ý muốn thoát vòng trần tục, nhưng nên biết rằng người có chí khí cao như rồng phượng thì phấn phát lên sau khi đã ẩn thân trong núi hiểm, tới lúc phát rồi chỉ e ngại tuổi thọ không sánh cùng vinh hiển.

HUYNH ĐỆ Cô hồng thủy thủ lư hoa bạch Nhất nhạn cô phi viễn phố 浦 trung Hồi thủ mộ vân thiên vạn lý Bán giang lưu thủy nhất phàm phong :: Một cánh chim hồng ẩn hoa lau Một nhạn bay xa trong bãi sông Quay đầu mây chiều muôn ngàn dặm Nửa sông nước chảy một buồm gió – Anh em thân thích cô đơn chia lìa nhau, quay đầu nhìn lại mọi người đều đã già vẫn còn xa cách, bàng bạc ánh chiều tà cuối đời chẳng xum họp lại được với nhau.

HÔN NHÂN Uyên ương kinh tán bôn liên chiểu Khẳng tiếu dương hoa vũ lạc thời Hổ huyệt long tuyền tự khoái lạc Bất tu kê khuyển tại phiên ly :: Đầm sen kinh hãi Uyên ương chạy Khá cười hoa dương mưa rơi rụng Hang hổ suối rồng tự vui thích Chẳng nên gà chó bên bờ dậu – Trong hôn nhân gặp sự bất tường khiến chia lìa xa cách, cảnh đau thương như hoa dương rơi rụng trong mưa gió, thôi đành chấp nhận tự vui với chí khí lớn của mình như ẩn trong hang hổ suối rồng dể chờ thời làm việc lớn, chẳng nên quơ quào tầm thường như lũ gà chó bên bờ rào.

TỬ TỨC Phong xuy nhất chi đào hoa phát Cao khán tam lưu tam quả tiên 鮮 Dị dạng phương sồ 雛 y trúc hạ Đãi thành vũ dực hướng thiên biên :: Gió thổi một cành đào hoa nở Khó lưu lại được ba quả tươi Dáng lạ phượng non nương dưới trúc Đợi thành lông cánh hướng bên trời Khó có con, con nhiều đậu ít, không trai, con gái nhỏ út rất quý hiển như chim Phượng còn non chờ ngày phát quý.

THU THÀNH Phùng Xà hưu vấn dao đài lộ Ngộ Hổ đề phòng kiến Thử Kê Cảo cảo nhân gia hoan hỉ tiếu Dạ thâm nguyệt lạc Tử Qui đề :: Gặp Rắn chớ hỏi đường đài ngọc thấy Hổ đề phòng gặp Gà Chuột Người nhà hoan hỷ cười khơi khới Đêm khuya trăng xế Tử Qui kêu – Gặp năm Tỵ chưa phải về nơi tiên cảnh, năm Dần nên phòng hai tháng Tí Dậu, trong lúc người nhà vui vẻ nói cười, thì một mình ra đi buồn như chim Quyên kêu thê thảm.