QUẺ SỐ 34: BÁT THUẦN KHÔN ĐINH

Quỷ Cốc Tiền Định Số

ĐINH THIÊN TỈNH TINH
Giờ Đinh sửu: Cách QUẬT ĐỊA PHÙNG KiM Dịch: Đào đất gặp vàng Giải: Kiệt lực doanh mưu tài nguyên tự chí Dịch: Hết sức doanh mưu tiên của tự đến Giờ Đinh Mão: Cách TẢO NiÊN KHÔ CẢO Dịch: Lúa non gặp nắng khô Giải: Nhất sinh điên bái vô đắc ý chí thời Dịch: Suốt đời gặp trắc trở không lúc nào đắc ý THIÊN CẤU TINH Giờ Đinh Ty: Cách NGUYỆT CHiẾU LÂU ĐÀi Dịch: Chim hoàng oanh ra khỏi hang Giải: Tiên nguy hậu an bộ bộ cao thăng Dịch: Trước nguy sau an từng bước lên cao Đinh Mùi: Cách HOÀNG OANH XUẤT CỐC Dịch: Oanh vàng ra khỏi hang Giải: Tiên nguy hậu an, bộ bộ cao thăng Dịch: Trước nguy sau yên ổn từng bước lên cao THIÊN THIỆT TINH Giờ Đinh Dậu: KHÔ TÙNG LẬP HẠC Dịch: Hạc đứng trên cây tùng khô Giải: Vãng cảnh thanh bần chí cao khí ngạo Dịch: Tuổi già sống thanh bần chí khí cao ngạo Giờ Đinh Hợi: Cách NGUYỆT HẠ TỬ QUi Dịch: Chim tử qui kêu dưới trăng Giới: Thê lương thân thế đồ hoán nại hà Dịch: Cuộc sống thê lương có kêu gọi cũng chẳng ích gì (Cách chung cho 6 giờ) CANH XỪ HOẠCH BỨU Cách Canh xừ hưu oán dụng công phu Nhân vị công phu hoạch bưu châu mãn thụ hoa khai lưu nhất quả Nhiêu trì thùy liễu dược song ngư Cầu thân tiến xứ nan thân tiến Dục tự như thời bất tự như Sự nghiệp ưng tu thành thố quật Thử tâm bất động tự an cư Dịch: CÀY BỪA BẮT ĐƯỢC CỦA BÁU Cày bừa đùng ta oán mất nhiều công phu cũng vì tốn nhiều công phu mà bắt được châu báu Đầy cây hoa nở chỉ còn lại một quả Liễu xanh bao bọc chung quanh ao đôi cá nhảy Tìm nơi tiến thân nhưng thân không tiến được Muốn đợi gặp thời mà thời chưa đến Sự nghiệp giống như đào hang thỏ Đừng để lòng quá xúc động thời cuộc sống được an ổn PHÁN ĐOÁN: • Thử mệnh Hổ bì Dương chất, thảo ốc thủ 取 đầu 投, ngoại trang hảo cảnh, nội thiểu kiên lao 牢, Mệnh thoái háo thần khởi 豈 hữu hư danh lộc, tác sự gian nghi, nghi nhân siểm khúc, huynh đệ vô tình thân tình bất mục, khẩu thuyết đoản trường, tâm vô cốc 梏 độc, kỷ phiên 番 nhân thị thất thương 商量 lường, tự hướng tiếu trung sinh xuất khốc, thương 傷 thê hại tử phá trùng viên, thử thị họa trung sinh xuất phúc, thị đắc ngọc uẩn 蘊 thạch nghi sơn huy, chân tàng uyên nhi xuyên mị chi tượng dã . • (Mệnh này tính chất dê mà bọc ngoài là da hổ, đền thủ giữ nơi nhà tranh vách cỏ, bề ngoài thì trang sức làm cho cảnh tượng tốt đẹp, bên trong thì ít đầy đủ và vững bền, mệnh gặp phải thần thoái lui hao tán, há có danh lộc hư, làm việc nghi ngờ gian trá, là ngươi cong queo siểm nịnh, anh em chẳng có tình, tình người thân chẳng hòa thuận, miệng nói ngắn nói dài, tâm không “ổn định” rối loạn độc ác, nhân thế mà mấy phen mất bàn bạc thương lượng, tự mình hướng vào trong cười mà sinh ra khóc, làm đau hại vợ con phá phá rồi lại tròn, thế là ở trong họa lại sinh ra có phúc, ấy bởi là ngọc ở trong đá mà núi phát sáng, cái tượng chân tàng trong đầm mà suối đẹp vậy) HÀNH TÀNG (Sự nghiệp) Thừa ân ngộ lộc tu phùng mã Vấn thử tầm kê thủy lộ hanh Vũ lộ phong sương vô bỉ thử Nhất thiên tinh đẩu chiều giang tân Dịch: Được âm vua lộc nước phải đợi năm Ngọ Hỏi thăm năm Tý năm Dậu mới hanh thông Mưa móc gió sướng không phân biệt này khác Đây bầu trời sao sáng soi xuống bến sông CƠ NGHiỆP Quật tỉnh khai trì đắc bưu châu Hưu tưởng tương như dã bất như Tử cửu niên gian thành sự nghiệp Yêu kim y tử khởi tu đồ Dịch: Đào giếng khai ao được của báu Đừng tường giống như thế nhưng không phải như thế Khoảng năm bốn chín thành sự nghiệp Há phải toan lo đai vàng áo tía HUYNH ĐỆ (Anh em) Phong cao nhạn trận bài vân quá Vân thủy thiều thiều bất kế đồ Thùy tín vãng lai cô lộ hạ Lư hoa thâm xứ ỷ thảo vu Dịch: Gió cao đàn nhạn bay qua mây Nước mây thăm thẳm xa vô kể Có ai tin rằng lúc chiều tà có con cò cô đơn bay sà xuống Chốn rừng lau sâu thẳm nương mình trong đám cỏ rậm HÔN NHÂN (Vợ chồng) Uyên ương lưỡng xứ kỳ song ngư Đề hậu qui lai mạc oán cô Phụng các long lâu hảo tiêu tức Tang du nhật mộ tự trù trù Dịch: Uyên ương ở hai nơi giữ hai cá Tiếng kêu oán hận quay trở về đừng than thở răng cô đơn Nhiều tin tức nói về gác phụng lầu rồng Lúc chiều tà cảnh muộn thấy dùng dằng