QUẺ SỐ 33: ĐỊA HỎA MINH DI
Quỷ Cốc Tiền Định Số
ĐINH – BÍNH
THIÊN HỘI TINH Giờ Bính Ty: cách LÃNG LÝ THỪA SAi Dịch: Cưỡi bè trên sóng Giải: Tẩu tận hiểm xứ phương nhập giai cảnh Dịch: Qua hết cho hiểm mới vào cảnh đẹp Giờ Bính Dân: cách CANH TÀN VỌNG NGUYỆT Dịch: Nhìn trăng lúc canh tàn Giải: Vãng niên tác sự lao nhi vô công Dịch: Tuổi già làm việc nhọc mà không có kết quả THIÊN QUÝ TINH Giờ Bính Thìn: Cách TUYẾT LÝ TẦM MAi Dịch: Tìm hoa Mai trong tuyết Giải: Khổ trung đắc lạc tự hiểu quý nhân phù trợ Dịch: Thấy cái vui trong cái khổ có quý nhân giúp đỡ Giờ Bính Ngọ: Cách TUYẾT LỘi BỒN QUỲ Dịch: Chậu hoa Quỳ trong tuyết Giải: Thiện ư phùng nghênh tuy bần nhi vô hại. Dịch: Giỏi về giao tiếp tuy nghèo nhưng không có hại THIÊN SÁCH TINH Giờ Bính Thân: cách LÃO THỨ HOÁN NHA Dịch: Chuột già thay răng Giải: Kê mưu thâm sự chung nan thành Dịch: Mưu kế dù sâu nhưng việc khó thành Giờ Bình Tuất: cách NHAM TiỀN TẨU MÃ Dịch: Ngựa chạy đầu non Giải: Mạo hiểm tiến hành tất chí tuyệt địa Dịch: Cứ mạo hiểm tiến hành là đi vào chỗ tuyệt địa (cách chung cho 6 giờ) TRƯƠNG CUNG TRÌ TiỄN Cách Nhạn quá Hàm dương tiếu ảnh cô Gia hương cốt nhục hữu như vô Trì cung đãi tiễn xạ ngưu đẩu Câu thố tầm long thành họa đồ Điểm thiết hỏa kim phùng hỏa luyện Tiễn giao tu sách hoán sài lô Phùng nhân nhược vãn an thân xứ Quý khách tương hòe thượng đe đô Dịch: GiƯƠNG CUNG LẮP TÊN Nhạn bay qua Hàm dương tự cười thấy mình cô đơn Anh em ruột thịt Ở quê nhà có cũng như không Giương cung lắp tên định bắn sao Ngưu sao Đẩu Tìm thỏ tìm rồng trở thành bức vẽ Chỉ sắt thành vàng lại gặp lửa tôi luyện Mũi tên gắn keo cần phải thay đổi lò Gặp ai muốn hỏi nơi nào được yên thân Xin trả lời: Có khách quý dìu dắt đến chốn đế đô PHÁN ĐOÁN: • Thử mệnh hữu cơ kiến thao trì 操持, xuất môn hữu tâm tác sự cảm vi, tính cương bất nhẫn, sự khí đại hữu thâm mưu, phạm thoái thần trọng, hiểm xứ bất nguy, lưỡng diệc tam hoa phương kết tử, đồng bồn thiết chủy khả vi thê, Tằng bị tiểu nhân vu chỉ, lặc 勒 thị chiêu phi, canh 更 nghi hoán quá, bất thủ tổ tông, cơ nhược năng bàng thủy tầm kim hữu, bất vi kỳ xứ dã vi kỳ (Mệnh này có hiểu biết cơ mưu giữ gìn, ra khỏi nhà có cái tâm dám làm dám hành động, tánh cứng rắn không nhẫn nại, làm việc chí khí có thâm mưu lớn, phạm phải nặng nề thoái thần, nơi hiểm trở lại không nguy hiểm, cũng lại hai ba lần ra hoa rồi mới kết thành quả, vợ phải là bồn bằng đồng chổi bằng sắt mới có thể chịu nổi, từng bị tiểu nhân vu khống, ép phải chiêu vời trái, nên thay đổi qua đổi lại, chẳng giữ gìn cơ nghiệp tổ tông, bằng như thuận theo ven nước bờ sông tìm bạn vàng, nơi không kỳ lạ ấy vậy mà lại kỳ lạ) HÀNH TÀNG (Sự nghiệp) Thiên phụng lâm hành dục triển thư Quý nhân tương ngộ đắc thiên thư Long lâu yếu kiến tri âm khách Tích ngọc đôi kim vãng hữu dư Dịch : Lúc ra đi chim phụng tung cánh bay Gặp được quý nhân cho cuốn sách quý Nơi lầu rồng muốn gặp khách tri âm Chứa đầy vàng ngọc lúc tuổi già thật dư dật CƠ NGHiỆP Lê tại điền trung vị đắc ngưu Gia hương thiên tế tiếp đông lưu Phùng xạ ngộ hổ thành công nghiệp Cao cừ phong phàm giá tiện chu Dịch: Chiếc cày đang ở ruộng mà chưa có trâu Quê nhà ở bên trời gần giòng nước phía đông Đến năm Tỵ năm Dần thì nên sự nghiệp Giương cao buồm gió thuyền đi thuận tiện HUYNH ĐỆ (Anh em) Tuyết trung lưỡng nhạn diên phi khứ Nhất cá tùng sơn khứ bất tri Duy hữu hàn lư tri hận xứ Độc trì can điếu thượng ngư ky Dịch : Đồi nhạn bay đi xa trong trời tuyết Một dãy núi ngăn đường đi không trở lại Chỉ có nơi rừng lau lạnh lẽo ngồi âm hận Một mình câm cần câu lên phiến đá ngồi HÔN NHÂN Nguyệt hạ quỳnh hoa hương khả tiếu Nhật cao hồng thụ ảnh hoang sơ Hôn nhân thiên lý tuân hồi thủ Hoa áp lan can ánh họa đồ Dịch: Hoa quỳnh mới nở dưới trăng tỏa hương thơm Mặt trời lên cao bóng cây cổ thụ lưa thưa Quay đầu nhìn thấy cuộc hôn nhân nơi ngàn dặm Hoa ở bên lan can làm sáng rực bức hoạ đồ