QUẺ SỐ 30: HỎA SƠN LỮ

Quỷ Cốc Tiền Định Số

BÍNH – QUÝ
THIÊN TRIỀU TINH Giờ Quý sửu: XUÂN ĐÊ DƯƠNG LiỄU Dịch: Dương liễu trên đê mùa xuân Giải: Tảo niên giao vận đơn lập chí nghi kiên Dịch: Tuổi trẻ đã gặp giao vận phải lập chí cho bền Giờ QÚY MÃO: HÀN ĐÀN HẠ ĐiẼU Dịch: Đàm lạnh thả câu Giải: Tác sự tân khổ hoạch lợi vô cơ Dịch: Làm việc thì lao khổ kiếm lợi không bao nhiêu THIÊN PHÁ TINH Giờ Quý Ty: CƠ ĐiỂU ĐẦU LÂM Dịch: Chim đói nương vào rừng Giải: Tri tắc cùng khốn thượng hữu chi bạn Dịch: Dẫu rang cùng khốn còn có chỗ nương tựa Giờ Quý Mùi: PHÁ VÕNG BỐ NGƯ Dịch: Lười rách bắt cá Giải: Hy vọng thậm đại nhất sự vô thành Dịch: Hy vọng lớn lao mà một việc cũng không thành THIÊN LOAN TINH Giờ Quý Dậu: CAO LÂU VỌNG NGUYỆT Dịch: Đứng trên râu nhìn trăng Giải: Khả vọng viên mãn chi kết quả Dịch: Có hy vọng thấy kết quả tròn đầy Giờ Quý Hợi: ĐÀi TiÊN ĐẮC VÕ Dịch: Rong rêu gặp mưa Giải: sự nghiệp tuy tiểu hoạch lợi thậm đại Dịch: sự nghiệp tuy nhỏ nhưng được lợi rất nhiều PHÁN ĐOÁN: Thử mệnh kinh phong thiệp lãng, Độ thủy xuyên sơn, Khâm hoài khảng khái 慷慨, Cốt cách 骨格 thanh kỳ, Hội thụ dụng受用 năng thi vì, Chỉ nhân tính cương tâm trực, Tằng kinh thị xứ thành phi, Háo tán tư tài, Quan hình thóai phục, Minh linh chân thị tử, Tiếp tục nãi thành thân, Đệ huynh như mạch lộ, Bằng hữu phản tri âm, Nhược yếu thập toàn túc, Long xà hữu tập chân, (Mệnh này trải qua sóng gió, lội qua nước xuyên qua núi, trong lòng nhiều hăng hái hoài bão, tính cách tinh thần thanh cao, khéo hưởng thụ tiêu dùng hay thi thố, chỉ vì tánh cứng tâm thẳng, từng trải nơi phải thành trái, tiền tài hao tốn, quan hình lùi phục xuống “không bị vướng vào quan hình”, con tò vò con mới là con “con nuôi”, nối tiếp lại thành thân, anh em như “khách ngoài” đường lộ, bạn hữu lại trở thành tri âm, nếu cần đủ mười phần đầy đủ toàn vẹn, “thì phải” rồng rắn tập quen lẫn lộn ở chung với nhau mới là thực) NHẠN BÀNG VÂN TiÊU cách Phát xứ phi nhân tổ Thành sự bấi khốc thân Tạc sơn phùng mỹ ngọc Quật thổ đắc hoàng kim Cốt nhục ân trung oán Uyên ương bội hậu tâm Tử y thân nhất tiễn Thiên lý thành tri âm Dịch: NHẠN Ở VEN MÂY Nơi phát đạt không phải là quê hương Nên việc không phải nhờ bà con Đào núi gặp ngọc quý Đào hang thỏ bất được vàng ròng Người ruột thịt làm ơn thành oán Vợ chồng không thật lòng Một khi dâng tấm áo tía Muôn dặm trở thành tri âm HÀNH TÀNG (Sự nghiệp) Tâm thiện đáo đầu chung tất an Phong đình phục chỉnh điều ngư can Ngọc quan phong trục hoàn tu lập Độc điều ngao ngư dã bất nan Dịch: Rút cuộc làm lành thì được ở yên Gió ngưng ta lại sắp sửa cần câu Nơi Ngọc Quan gió thổi lại càng phải đứng vững Một mình câu được cá Ngao thật không khó CƠ NGHiỆP (Cơ Nghiệp) Dục thượng cao sơn lực bất giờ Căn thâm lão thụ tiếp thiên nha Phùng ngưu ngộ khuyến chung thành khánh Thủy khẩu ân nhân tiện khởi gia Dịch: Buồn trèo lên núi cao nhưng không đủ sức Gốc rễ sâu cây già cao lưng trời Gặp năm Sửu năm Tuất thì có chuyện mừng Có vị ân nhân nơi thủy khẩu giúp cho nên cơ nghiệp HUYNH ĐỆ (Anh em) Thiên biên lưỡng yến phân phi khứ Thủy biên duy tồn nhất chích cô Ngô Việt tiêu tương âm tín viễn Phiến phàm phong tống ngộ bình hồ Dịch: Ở lưng trời đôi chim én lìa nhau bay đi Bên sông chỉ còn lại một con lẻ loi Đôi bên Ngô Việt bến tiêu tương tin tức xa xôi Một cánh buồm gió thuận lợi lại gặp hồ nước phẳng lặng HÔN NHÂN (Vợ chồng) Tường ngoại chi đầu vị phóng hoa Hồi vọng tiêu điều độc ngã gia Thiên lý minh nguyệt nhân sự hảo Chỉ phạ âu lộ tại liêm hà Dịch: Ở ngoài tường đầu cành hoa chưa nở Nhìn thấy chỉ có nhà mình là tiêu điều Trăng sáng ngàn dặm nhân sự tốt Chỉ sợ cò vạc ở chốn rừng thưa