Quẻ số 2: LÔI PHONG HẰNG

Quỷ Cốc Tiền Định Số

GIÁP – ẤT

TỬ KHÍ TINH

Giờ Ất Sửu: Cách Dương Hoa Hóa Bình 萍 (Hoa Dương liễu hóa thành bèo) Giải: Căn cơ tuy bạc, hạnh hữu hảo nhân tương phùng (Căn cơ tuy mỏng may gặp được người tốt trợ giúp)

Giờ Ất Mão: Cách Bệnh Long Hành Vũ (Rồng bệnh đi trong mưa) Giải: Cửu 久 xử ách cảnh, chung hữu thăng đằng chi nhật (Ở lâu trong cảnh tai ách, cuối cùng cũng có ngày bay bổng)

LONG CAO TINH

Giờ Ất Tỵ: Cách Duyên Mộc Cầu Ngư (Leo cây tìm cá) Giải: Tuy lao nhi nhất vô sổ 數 hoạch 獲 (Tuy khổ nhọc nhưng chẳng thu đếm được một cái gì) Giờ Ất Mùi: Cách Phi Sa Thủ Kim (Bới cát tìm vàng). Giải: Nhất sinh tân khổ, sở đắc thậmvi (Một đời cay đắng khổ sở kiếm được rất ít)

THIÊN PHÁ TINH

Giờ Ất Dậu: cách Phá Phiếm Giao Thu (Quạt rách phẩy vào mùa Thu), Giải: Tác sự vô hằng, động nhiếp bị nhân khinh khi (Làm việc thất thường không bền chí, bị khinh rẻ vì hành động).

Giờ Ất Hợi : Cách Kim Bạn Đôi Thạch (Chất đá lên bờ vàng). Giải: Lũ bại lũ hưng, đáo để bất chí phá gia (Lúc bại lúc thành cuối cùng cũng không đến nỗi phá nhà).

PHÁN ĐOÁN: Thử Mệnh tính cách điềm đạm, đởm khí anh hào, phàm sự bất năng thâm tư 思 viễn bị 備, kỷ phiên hữu thủy vô chung, bị 被 nhân đương tương cơ, nhân thử cải biến trùng trùng, hung xứ bất hung mỹ xứ bất mỹ, sơ niên tráng kiện tinh thần, trung niên tâm hôi 灰 ý lãn, hảo sự đa ma tai nguy yêm 淹 trợ, xảo trung thành khuyết vị xứ thành phi, tùng xử thành gia lập nghiệp, bất viễn ly biệt thê tử, hữu quý nhân tửu thực, vô quý nhân tài bạch phân, chỉ kiến bán không bán tục, thử 此 Tạo hóa sở chiên 所旃. Mệnh này tính cách điềm đạm khí chất gan góc anh hùng, phàm sự việc gì cũng không thường nghĩ ngợi sâu dự phòng xa, nhiều phen bị người chê bai là làm việc gì cũng có trước mà chẳng có sau, nhân thế biến đổi luôn luôn, chốn hung hiểm chẳng hung hiểm, chốn tốt đẹp chẳng tốt đẹp, tuổi trẻ tinh thần tráng kiện, trung niên lòng như tro lạnh ý lười nản, việc tốt gặp nhiều trở ngại tai biến nguy nan trầm trệ, trong khéo thành vụng chỗ phải thành trái, ví như khiến cho thành được nhà lập được nghiệp, chẳng tránh khỏi phải xa lìa vợ con, có duyên cùng quý nhân ăn uống, không có phần cùng quý nhân chia chác tiền bạc, chỉ thấy nửa không (tăng) nửa tục, ấy vì Tạo hoá trao cho như vậy. Cách chung cho 06 tuổi LƯU THỦY UYÊN ƯƠNG (chim Uyên Ương trôi theo dòng nước) Nhất song Hồng Nhạn lưỡng Đông Tây Vũ đả uyên ương các tự phi Mỗi quái động thâm vân xuất vãn 晚Ưng hiềm hải khoát lãng lai trì Tài phùng quỷ tú song thằng 繩 đoạn Lạc đáo Long môn nhất kiến trung Diệp tạ hoa tàn căn bản tại Canh thâm thu nguyệt thủy dương huy :: Một đôi Hồng Nhạn nơi Đông Tây Mưa dạt Uyên Ương mỗi tự bay Quái lạ hang sâu mây ra muộn Chỉ hiềm biển rộng sóng tới chậm Xẩy gặp Sao Qủy hai dây đứt Lạc tới cửa Rồng theo bước trong Hoa tàn lá rụng gốc còn lại Canh khuya trăng Thu mới rạng rỡ •Thọ bản Tùng Bách tề (Sống lâu như cây Tùng Bách) •Thiên linh bất đới thì (Tuổi trời chẳng đợi thời) •Ngao ngư du thiển thủy (Cá Ngao chơi nước nông) •Bình bộ thượng vân thê (Bình thản bước lên mây) – Tuổi Giáp cho 06 giờ Ất: Chỉ có giờ Mão là tốt các giờ khác đều khốn khó vất vả, anh em, vợ chồng đều xa lìa cách trở, vợ mất sớm, công danh sự nghiệp đều trì trệ, chẳng gặp thời dù có năng lực không thoả chí như cá lớn ở nơi nước cạn, tuổi thọ cao đến cuối đời được hưởng an nhàn sung sướng.

HÀNH TÀNG Dần vĩ Mão đầu quân phục phát Ngưu dương vận chí vấn giai danh Tuy nhiên thiệp hiểm tang du hạ Dẫn lãnh quần tiên nhập hoa thành :: Cuối Dần đầu Mão mi lại phát Vận đến Trâu Dê hỏi danh tốt Dẫu trải qua hiểm dưới gốc dâu Dẫn lĩnh quần tiên vào thành hoa. CƠ NGHIỆP Lục dương nhiễm nhiễm trùng thành Phi nhứ phiêu diêu trục 逐 yến khinh Túng hữu cuồng phong suy bất tán Doanh gia tuy phá phá hoàn thành :: Liễu xanh lay động quanh thành Tơ bay phất phới theo én nhẹ Ví có gió cuồng thổi chẳng tan Kinh doanh gia đình phá lại thành – Qua vận Sửu vận Mùi bắt đầu khá, sau khi trải qua nhiều gian nan khó nhọc cuối năm Dần qua năm Mão thì phát đạt thành công, công danh sự nhiều lần thất bại rồi lại xây dựng lên cuối cùng tuy nhỏ nhưng cũng tạo được sự nghiệp

HUYNH ĐỆ Phong suy tứ nhạn cao phi viễn Hồi thủ sa đinh nhất chích cô Lai khán giang sơn thiên vạn lý Quy hoàn y cựu hạ bình vu 蕪 :: Gió thổi bốn nhạn bay cao xa Quay đầu bến cát một chiếc đơn Tới xem sông núi ngàn muôn dặm Quay về nơi cũ chỗ bằng, hoang. – Anh em xa lìa cách trở, mỗi người một nơi, về nơi quê quán một mình cô đơn.

HÔN NHÂN Kinh lưỡng uyên ương dong khốn quyện Dã ưng xuân ý bất thê hòa Niên trì thảo lục dung âu lộ Kinh khởi ô phi bạch hạng 項 đa :: Trải qua đôi Uyên buồn khốn mỏi Vậy ứng ý xuân chẳng đậu cùng Đầm sen cỏ biếc chim cò cốc Kinh hãi quạ bay cổ trắng nhiều – Vợ chồng chia lìa nhau, không hoà hợp, khó cùng nhau sống đến bạc đầu.

TỬ TỨC Yêu đào hoa phát hà đa diễm Mã thủ 首 phương tri lưỡng quả thành Phượng các long lâu tuy hữu phận Yêu kim y tử thượng quankinh :: Hoa yêu đào nở sao nhiều đẹp Đầu Ngựa mới biết thành hai quả Gác Phượng lầu Rồng biết có phận Áo gấm lưng vàng lên kinh quan – Có con thành danh, con giầu sang phú quý, hưởng phúc phận từ con.

THU THÀNH Thiên linh vĩnh mệnh tề tùng bách Tứ quý thương 蒼 thương phong nguyệt nhàn Nhân đạo ngao ngư kim thấu hải Nam Kha nhất mộng tái kinh hoàng :: Tuổi trời mệnh thọ như tùng bách Bốn mùa xanh ngát trăng gió nhàn Người bảo cá ngao nay ra biển Một giấc nam kha lại kinh hoàng – Mệnh rất thọ sức khoẻ tốt sống lâu như cây tùng cây bách xanh tươi bốn mùa, ngẫm lại cuộc đời trải qua nhiều thăng trầm khốn khổ mà thấy kinh hoàng, hưởng an nhàn sung sướng ngắn ngủi như giấc Nam kha (mộng Nam Kha, giấc mơ dưới gốc cây hòe, để chỉ cuộc đời là phù du ảo mộng; công danh phú quí như giấc chiêm bao ngắn ngủi).