QUẺ SỐ 18: PHONG SƠN TIỂU SÚC
Quỷ Cốc Tiền Định Số
ẤT – TÂN
THIÊN HUỐNG TINH
Giờ Tân Sửu: Cách Lang sôn 飧 Hổ thực (Sói ăn Hổ nuốt) • Giải: Nhất sinh y thực khiết trừ bất tận (Suốt đời cơm áo ăn xài không hết)
Giờ Tân Mão: Cách vãn 晚 tiết hoàng hoa (Hoa vàng tiết muộn) • Giải: Thành gia lập nghiệp vãng cảnh ưu du (Xây dựng được cơ nghiệp cảnh già được thong thả)
THIÊN QUÝ TINH
Giờ Tân Tỵ: Cách Phá ốc trùng tu (Nhà phá được sửa lại) • Giải: Đắc nhân phù trợ cố năng trùng hưng gia nghiệp (Có người giúp đỡ nên xây dựng lại được gia nghiệp)
Giờ Tân Mùi: Cách phá phiến thu tàn (Quạt rách vào cuối thu) • Giải: Vãn niên hữu ách vận hạnh nhi vô hại (Tuổi già gặp tai ách nhưng không có hại)
THIÊN LƯƠNG TINH
Giờ Tân Dậu: Cách Thạch thượng nhiên đăng (Đốt đèn trên tảng đá) • Giải: Tác sự đản hữu hư danh hào vô thực tế (Làm việc chỉ có danh hư, không chút nào thực tế)
Giờ Tân Hợi: Cách Tuyết trung Mai đính 飣 (Trong tuyết mai kết quả • Giải: Đại nạn chi trung hốt nhiên kỳ ngộ (Trong cơn đại hoạn nạn gặp được sự kỳ lạ)
PHÁN ĐOÁN:
• Thử mệnh vi nhân hữu điều độ hữu cơ mưu, Hung khâm sái 灑 lạc, Khí vũ cao minh, sinh lai ma nạn, Tằng kinh sương tuyết, Ngộ quý hữu như bất ngộ, Hữu thân khước hữu vô thân, nản hốI chung đa đầu thiểu vĩ, Tiến thoái xứ hữu thuỷ vô chung (mệnh này là người điều độ có cơ mưu, trong lòng phơi bày tự nhiên sảng khoái, tánh chất cao rộng sáng suốt, sinh ra mài dũa trong tai nạn, từng trải trong sương tuyết, gặp quý nhân như chẳng gặp, có thân thích cũng như chẳng có thân thích, trong hối nản hết nhiều đầu lại ít đuôi , nơi tiến lui có trước lại chắng sau)
• Phu thê đạI nghi nhân thân chí thân, Tử tức chỉ nghi đắc nhất thất nhất, Sinh nhai bất nghi thủ cựu, Hoạt kế chỉ nghi kháo 靠tân, Huynh đệ nan hoà, phụ mẫu hữu tổn, Chỉ nhân khẩu trực thiểu bao dung, thường bị tiểu nhân chiêu đố kỵ (vợ chồng rất nên nhân cái thân mà tiến tớI thành vợ chồng, con chỉ nên được một mất một, sinh sống không nên giữ cái cũ, kế sinh hoạt chỉ nên nương nhờ vào cái mới, anh em khó hòa, cha mẹ có tổn hại, chỉ vì miệng thẳng ít bao dung, thường bị tiểu nhân ganh ghét ) Cách chung cho 06 giờ HẢI ĐỂ 底 MINH CHÂU (Hạt ngọc dưới đáy bể) Minh châu hải để ẩn hàn quang Dụng ý lao tâm phản kiến thương 傷 Cô nhạn tùy phong đa diểu 渺 mạc 漠 Song uyên hí thủy kiến thương mang 滄茫 Tư cơ cựu xứ thân nan kháo 靠 Ẩm thực tân thời phú tất khang 健 Tá vấn bách niên hà sự nghiệp Chi đầu tiên 鮮 quả kết thành song Thất gian 奸 bát giảo狡 thắc 慝 đa trở 阻 Họa bính 餠 hư hoa vị liệu cơ 飢 Đãi đáo song uyên trùng vũ dực Bích đào hoa hạ xuất linh chi 芝靈 Đáy bể ngọc sáng dấu sáng lạnh Dùng ý nhọc lòng lại thấy hại Nhạn đơn theo gió nhiều mờ mịt Đôi uyên đùa nước thấy mênh mông Chốn cũ nhà xưa thân khó nương Thời nay ăn uống giầu tất khỏe Nếu hỏi trăm năm sự nghiệp sao ? Đầu cành quả đẹp kết thành đôi Bẩy lừa tám gạt nhiều trở ngại Hoa giả bánh vẽ chẳng khỏi đói Đợi đến đôi uyên đầy lông cánh Dưới hoa đào biếc ra cỏ lành * Tuổi Ất cho 06 giờ Tân: Hai giờ Sửu Mão là tốt, giờ Tỵ Hợi trước xấu sau tốt, hạt minh châu tuy quí báu như rơi xuống biển sâu thì quí cũng như không, anh chị em tan lạc rời rạc chỉ còn đời sống vợ chồng là đầm ấm, không thể nương tựa vào gia đình cha mẹ mà phải tự lập thay đổi mới có thể phát triển lập thànhgia nghiệp được, sau rồi cũng ổn định nhưng cần thiết là nên sống trung thực đừng hại người thì mới có thể được tốt lành. Linh chi 芝靈: một loài cỏ như nấm, mọc ở các cây đã chết, hình như cái nấm, cứng nhẵn nhụi, có sáu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, tía. Người xưa cho đó là cỏ báo điềm tốt lành. HÀNH TÀNG Điền trung miêu苗giá稼tuy nhiên雖然 lập Cảnh nội vinh thân tất tự cao Nhược hướng trùng sơn doanh hoạt kế Hư danh hậu 厚 lộc tự thao thao 滔滔Mạ cấy giữa đồng tuy gây dựng Trong cảnh thân tốt ắt tự cao Nếu hướng núi dài tìm kế sống Danh giả nhiều lộc tự có đầy
CƠ NGHIỆP
Minh châu hải để khởi hàn quang Dụng ý công danh biệt hữu phương Ngộ khuyển phùng xà nan lập chí Lưỡng trùng phong 峯 lộ tiệm vinh xương Đáy bể ngọc sáng phát sáng lạnh Công danh dùng ý có nơi khác Gặp chó gặp rắn khó lập chí Hai lần đường núi dần tốt đẹp * Khởi nghiệp để gây dựng từ nhỏ cực nhọc như trồng cây lúa mạ trên đồng ruộng, rồi trong tự thân nó sẽ tốt tươi sẽ cao lớn dần lên, năm ahy vận Tuất, Tỵ thì nhiều khó khăn, nếu chuyển qua tìm kế sống khác ở nơi núi rừng hay thuộc về khoáng sản, trong lúc đầu gặp nhiều khó khăn như phải vượt qua hai rặng núi nhưng rồi danh tuy không có nhưng lại được phát đạt và nhiều tiền bạc .
HUYNH ĐỆ
Nhạn quá quan san mê 迷 viễn ngạn Cô phi tương phố 浦 hàn寒 giang khoát Thủy hàn dạ tĩnh vô nhân chí Độc túc lư hoa yên 煙 mặc 冒 mặc Nhạn qua cửa ải lạc cõi xa Lẻ bay bến Tương sông lạnh rộng Đêm yên nước lạnh không người đến Riêng đậu hoa lau mờ lam khói * Một mình rời khỏi gia đình ra ngoài tự lập thân, anh em cách xa nhau it khi tới lui thăm hỏi, một mình đơn côi nơi tĩnh lặng.
HÔN NHÂN
Đan phượng minh thời hồng nhạn khứ Song phi lãnh vụ 霧 khởi thương 滄lãng Tây hiên hoa lạc đa phong vũ Trực đãi vãn lai lan tự hương Lúc phượng đỏ hót hồng nhạn đi Bay đôi sương lạnh nổi sóng khơi Hiên tây hoa rụng nhiều mưa gió Đợi đến muộn về lan tự thơm * Hai vợ chồng cùng nhau rời đi xa, gặp nhiều gian nan vất vả, về sau rồi cũng được an lành
TỬ TỨC
Lao tâm sự nghiệp hùng 雄 bi mộng Lâm hành臨行phân phó吩咐nhất song song Đường tiền hỷ kiến chu y khách Nguyệt ánh tang du quế tử hương Nhọc lòng thương mộng sanh trai Dặn dò đi gấp một hai đôi Trước sân mừng gặp khách áo đỏ Ánh trăng xế bóng quả quế thơm * Vợ chồng rất mong ước được sanh con trai đôi ba đứa, nhưng rồi rất khó khăn lúc đầu, mãi về sau mới có được và con khá quý hiến.
THU THÀNH
Nhân sinh lạc 落 đắc hỉ hoan ngu 娛 Đáo xứ thân tâm bất tự tri Chính hảo Nam song 囱 tương kí tố Nhất thanh kê xướng tống qui đồ Kiếp người mất được mừng vui sướng Đến chốn thân tâm không tự biết Cửa Nam chính lúc gởi nỗi niềm Một tiếng gà vang tiễn đường về * Về già có nhiều nỗi niềm tâm sự, nhận thấy ra trong đời người chẳng có niềm vui sung sướng nào là thật sự, để thân tâm của mình mê đắm vào đến đâu thì chỉ tự mình mới biết được,