Quẻ Số 16: PHONG ĐỊA QUAN
Quỷ Cốc Tiền Định Số
ẤT – KỶ
THIÊN TRỤ TINH
Giờ Kỷ Sửu cách: Lãng lý thừa 乘 phù 浮 (Cưỡi bè trên sóng) • Giải: Ngộ sự tu phòng nguy hiểm (Gặp việc nên đề phòng có nguy hiểm) * Trên sóng gió mà cưỡi bè đi ắt rất nhiều nguy hiểm, làm việc gì cũng cần cẩn thận vì sẽ gặp phải nhiều nguy hiểm trên đường đi.
Giờ Kỷ Mão cách: Phong tiền điểm chúc (Đốt đuốc trước gió) • Giải: Đắc chí thời phòng hữu bất trắc 不測 (Lúc đắc chí nên đề phòng gặp bất trắc) * Trong đêm đen có được ngọn đuốc sáng thì thích thú nhưng gió sẽ thổi tắt lúc nào không biết, nên phải cẩn thận đề phòng lúc tốt lành có thể xẩy ra sự xấu không lường trước được.
THIÊN HỦ TINH
Giờ Kỷ Tỵ cách: Thừa thuyền độ hải (Cưỡi thuyền vượt biển) • Giải: Hoạn nạn chi trung hữu nhân phò trợ (Trong cơn hoạn nạn có người giúp) * Đi thuyền qua biển rộng sẽ có nhiều tai hoạ xẩy ra bất ngờ xẩy ra, nhưng thuyền lớn để đi biển vững chắc an toàn hơn ghe nhỏ đi sông hồ, nên nếu có hoạn nạn xẩy ra rồi cũng có điều kiện để trông mong được sự cứu giúp của người khác.
Giờ Kỷ Mùi cách: Nguyệt chiếu hàn đàm (Trăng soi đầm lạnh) • Giải: Khốn khổ chi thời đắc ngộ cứu tinh (Trong cơn khó khăn khổ cực gặp được sự giúp đỡ) * Phải về nơi hoang vắng đầm lạnh âm u để kiếm sống thì chịu nhiều vất vả, gặp ánh trăng sáng soi giống như có sự giúp cho qua khỏi cảnh âm u đen tối.
THIÊN NÊ TINH
Giờ Kỷ Dậu cách: Trần kính sinh huy (Gương phủ bụi lại sáng) • Giải: Hoạn nạn dĩ quá hậu phúc vô lường (Hoạn nạn đã qua gặp phúc lành nhiều vô kể) * Gương bị bụi che lấp mờ tối ví như là hoạn nạn, nay lại phát sinh ra được ánh sáng là phục hồi lại được công dụng của gương, sẽ có phúc lớn khó lường được bao nhiêu sau khi hoạn nạn đã qua đi.
Giờ Kỷ Hợi cách: Bệnh long hành vũ (Rồng ốm đi trong mưa) • Giải: Phùng hung hóa cát sự sự thuận thủ (Gặp xấu hóa tốt mọi việc thuận lợi) * Rồng là linh vật làm ra mưa gió, bị đau ốm là gặp hoạn nạn, rồi sau lại trở về công việc của mình là làm ra mưa gió nên mọi việc lại thuận tay vì đó là sở trường của mình.
PHÁN ĐOÁN:
• Thử 此 mệnh nãi tạc 鑿sơn khai lộ quật 掘 tĩnh hấp tuyền, dụng tận công phu 功膚 tâm lực, hội thi vi 施爲 năng bài 排 bố 布, tri khinh trọng biệt hiền ngu, tuy tắc trí lượng thâm trầm 深沉, nại hà vận hạn bác tạp 駁 雜, ngô công hội túc bất như diên du 蜒蚰, thân như bất hệ 系 chu, mệnh như sơ sinh nguyệt, mạc 莫 hận sở vi đa tiến thoái, chỉ nhân 因 thời tiết vị tương phùng, * Mệnh này là đào núi mở đường đào giếng rút lấy nước nguồn, dùng hết cả mọi sức lực lớn lẫn tấm lòng, hiểu biết cách bày ra việc làm để, có tài đưa ra và xắp xếp việc, biết coi nặng xem nhẹ, biết phân biệt kẻ ngu hay là người hiền tài, tuy biết khuôn phép ước lượng cái trí của mình, lại thâm sâu trầm tĩnh ý tứ kín đáo khó lường, tại sao vận hạn cứ lẫn lộn, con rết nhiều chân không bằng con ốc sên không có chân, thân như thuyền không được buộc neo(dập dềnh khổng ổn định), mệnh như trăng non mới sinh (còn khuyết hãm mờ nhạt chưa tròn đầy sáng sủa), chớ nên hận việc có nhiều tiến rồi lại lùi, chỉ vì nguyên nhân là chưa cùng được gặp thời. Cách chung cho 06 giờ Li 籬 NGOẠI HẢI ĐƯỜNG (Hoa hải đường ngoài bờ rào) Trùng đài ngưỡng vọng bích vân cao Phong quyển捲 trường giang khởi lãng đào 濤Nhược vấn bình sinh danh lợi toại Nại hà trung hạn thị phi chiêu Tiêu tương dạ vũ hoa linh 零 lạc落 Sở 楚trục 逐 hàn phong nhạn trận cao Đãi đắc nhất dương hồi Phục quái Bất kiên lao xứ dã kiên lao Lầu cao ngửa ngắm mây xanh cao Gió cuộn sông dài dậy sóng to Như hỏi đời thường danh lợi thoả Tại sao giữa hạn đúng sai vời Đêm mưa Tiêu tương hoa rơi rụng Gió lạnh đuổi đánh đàn nhạn cao Đợi được một dương về quẻ phục Nơi chẳng bền vững ấy vững bền o Tính trực bẩm 稟 ư 於 thiên o Khinh khinh xuất tự nhiên o Nhạn phân phi biệt 別 phố 浦 o Trời cho tánh thẳng thắn o Nhè nhẹ mở ra tự như thế o Nhạn chia bay bến sông khác o Cầm bảo 寶 hoán châu 珠 huyền弦 o Thân 身 tổ nguyên 原 vô phận o Tha nhân 他人 khước hữu duyên o Lợi danh trùng nhận 軔 lập o Bích chiểu kết song liên o Đàn báu chuyển dây ngọc (quý) o Nền gốc tổ tiên không chia cho phần o Lại có duyên phận nơi người khác o Danh lợi nhiều lần gây dựng bị ngăn trở o Ao biếc kết liền đôi sen lại với nhau * Tuổi Ất cho 06 giờ Ất: 06 giờ sinh đều trong sự gian nan bất trắc trước xấu sau tốt, là người có chí khí cao, dám nghĩ dám làm dám mạo hiểm, lúc trẻ anh em chung bầy đàn với nhau rồi mưa gió đuổi đánh tan tác khắp nơi, một mình rời bỏ quê nhà ra đi xa không dấu vết, chịu đựng nhiều gian khổ, đợi qua thời kỳ đen tối ánh sáng (dương phục) hiện lên, gặp được đẹp duyên với người phương xa, danh lợi tuy nhiều lần gặp trở ngại nhưng vợ chồng vẫn cùng sánh đôi chung sức, từ đó dần dần xây dựng được cơ nghiệp. Sở 楚: Khóm cây nhỏ, bụi gai, giạ sở 夏楚 cái gậy con dùng để đánh kẻ vô lễ, lấy roi mà đánh người cũng gọi là giạ sở, đau đớn, như toan sở 酸楚, khổ sở 苦楚 chua cay, đau đớn v.v., nước Sở, nay gọi các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc là đất Sở.
HÀNH TÀNG Bình sinh vinh nhục tằng 曾 kinh 經 quá Mã bạn 畔 long biên 邊 chí khí cao Nhược đắc công danh Nam thực 殖 hảo Bất kiên lao xứ dã kiên lao Đời thường vinh nhục từng trải qua Bên ngựa bên rồng cao chí khí Công danh nếu được phương Nam tốt Nơi chẳng bền vững ấy vững bền
CƠ NGHIỆP Trùng đài dao 遙 vọng cửu thiên cao Phong quyển trường giang khởi nộ đào Quyên 鵑 hóa bằng 鵬phi thiên vạn lý Long lâu phượng các tự anh hào Lầu cao xa ngắm chín trời cao Sông dài gió cuộn nổi sóng điên Chim quốc hoá bằng bay ngàn dặm Lầu rồng gác phượng bởi anh hùng * Trong cuộc đời đã từng trải qua lúc vẻ vang lúc tủi thẹn, cho đến khi gặp được năm hay vận Thìn Ngọ thì nuôi chí khí quyết chí hơn, công danh nếu như được thì ở nơi đất tốt nơi phía Nam sinh lợi, nơi đó tưởng như không được vững chắc thì lại vững bền mà tạo nghiệp, từ thấp bé như chim quốc ngày ngày lủi bụi rậm kiếm ăn chợt hoá thành chim bằng to lớn bay tận mây xanh, sự nghiệp được hiển dương đáng mặt anh hùng. Thực 殖: Sinh, như phồn thực蕃殖 sinh sôi, nẩy nở. Sinh lợi, chấn hưng công nghệ để sinh ra tài lợi gọi là thực.
HUYNH ĐỆ Nhạn quá quan 關 san khứ lộ viễn Cô phi biệt 別 tích 迹 hữu thuỳ 友 tri Tuy nhiên Ngô Việt tri âm thiểu Phi đáo Hàm dương thị tận kì 期 Nhạn vượt biên ải đường đi xa Bay riêng mất dấu ai có biết Cho dù Ngô Việt tri âm ít Bay đến Hàm dương hết hẹn kì * Một mình rời bỏ anh em đi xa vượt biên mất dấu vết, tuy ở nơi xa cách như hai nước Ngô Việt ít trao đổi nói chuyện với nhau, nhưng rồi sẽ có kì hẹn gặp lại nhau cho thoả hết lòng thương nhớ .Hàm Dương : thuộc Tây An kinh đô nước Tần.
HÔN NHÂN Uyên lữ 侶 trì 池 trung giao cảnh xứ Đề phòng phong vũ sậu 驟 tương kinh Vân khai thiên lý khán minh nguyệt Liêm ngoại lựu hoa chiếu nhãn minh Trong ao bạn uyên cổ liền kề Phòng bị gió mưa chợt cùng sợ Ngàn dặm mây mở xem trăng sáng Hoa lựu ngoài rèm soi mắt sáng * Vợ chồng đang đầm ấm bên nhau, chợt có điều xấu làm cả hai sợ hãi, nhưng rồi mọi việc không tốt qua đi, cả hai trở lại đằm thắm như xưa.
TỬ TỨC Nhị quả giao chi nhất quả kết Dữ 與 quân君 thực thuyết nhất chi lao 牢 Âm công cửu 久 tích 積 vu 廡 môn thịnh Quan hiển thân vinh thế tiệm cao Hai quả liền cành một thành quả Nói thật hứa anh một cành bền Công đức chứa lâu cửa nhà vượng Vẻ vang quan chức thế dần cao * Quả biểu tượng cho con trai, có hai thì được một thành quả chắc chắn sẽ được vững vàng không sợ rụng, nhờ âm đức tích luỹ lâu đời mà về sau con cháu sẽ càng dần được quý hiển. vu 廡: Hai dãy nhà làm ở hai bên nhà giữa gọi là vu hay vũ. Như đình có hai cái giải vũ hai bên.
THU THÀNH Quân thân nhược kiến ngưu kỵ mã Diễu diễu阮廌mang mang芒芒 lộ cánh竟dao遙 Viên hạc vãng lai tương đối vũ 舞Nhất thanh địch 笛 vận triệt vân tiêu 雲霄 Thân anh nếu thấy cưỡi trâu ngựa Mịt mù phờ phạc hết đường xa Vượn hạc qua lại cùng múa đối Một điệu sáo vang thấu mây trời * Nếu như thấy năm hay vận hạn Sửu Ngọ thì lúc ấy chính là lúc mịt mờ phờ phạc ra đi, đường đời không còn dài nữa.