Quẻ Số 13: PHONG HỎA GIA NHÂN

Quỷ Cốc Tiền Định Số

ẤT – BÍNH

THIÊN HỰU TINH

Giờ Bính Tý cách: Cao lâu 樓 vọng nguyệt (Lầu cao ngắm trăng)

• Giải: Khả vọng đắc viên mãn chi kết quả (Có hy vọng được đầy đủ được nhiều kết quả)

* Đứng trên lầu cao nhìn được xa rộng nên hành động ắt phải có kết quả thành công đầy đủ.

Giờ Bính Dần cách: Phong phòng 蜂房 kết mật(Tổ ong kết mật)

• Giải: Sự sự thuận thủ xứ xứ đắc lợi (Mọi việc đều thuận tay mọi nơi đều có lợi)

* Loài ong sống rất có tổ chức chia nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm làm việc chăm chỉ, nên làm việc được thuận lợi trong mọi nơi.

 

THIÊN LỄ TINH

Giờ Bính Thìn cách: Mã tê 嘶 dương liễu (Ngựa hí bên hàng dương liễu)

• Giải: Đắc thời nhi hưng đại xiển 闡 quyết 決 trường 長 (Gặp thời hưng vượng quyết liệt mở rộng ra cái hay cái tài giỏi của mình)

* Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm, gặp gió mạnh thì uốn mình theo chiều gió, gió dừng là trở về vị trí cũ, cành dương nhờ sức mềm dẻo nên khéo tùy duyên mà không mất vị trí. tức là tuy chìu theo cảnh mà không bị cảnh chi phối. Vì thế, cành dương được tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Ngựa gặp thời thích chí hí vang chạy xa ngàn dặm cho phỉ sức tráng kiện dẻo dai của mình.

Giờ Bính Ngọ cách: Li 籬 cúc phùng thu (Giàn hoa cúc gặp mùa thu)

• Giải: Lão đương 當 ích tráng 壯 (Càng già càng thêm mạnh khoẻ)

* Hoa cúc vào mùa thu là đúng thời, mùa thu hoa cúc tượng trưng cho tuổi về già, về già lại đúng thời vận nên càng già càng khoẻ mạnh.

 

THIÊN THIỀN TINH

Giờ Bính Thân cách: Phi huỳnh 螢 phóng hỏa (Đom đóm bay tỏa ánh sáng)

• Giải: Lực tuy bạc 薄 nhược diệc năng phấn phát hữu vi (Sức tuy yếu đuối mỏng mảnh nhưng cũng đủ phấn phát làm việc)

* Đom đóm là loài côn trùng nhỏ, sức tuy yếu đuối mỏng mảnh nhưng phát ra được ánh sáng trong đêm đen là cũng có được năng lực dù năng lực đó nhỏ bé cũng tạm đủ để làm việc nhỏ.

Giờ Bính Tuất cách: Xuân Lan Thu Cúc (Hoa lan mùa xuân cúc mùa thu)

• Giải: Nhất sinh đô thị 都是 giai cảnh (Một đời đều là cảnh tốt đẹp)

* Sanh hợp thời, lại ví mệnh như bốn lòai cây quân tử được người đời yêu mến là lan, mai, trúc, cúc, thuận theo mùa xuân, hạ, thu, đông, cho nên một đời đều là cảnh tốt đẹp.

PHÁN ĐOÁN

• Thử mệnh phượng xuất kê sào 巢 long sinh xà phúc 腹, tính khẩn 緊 đa mưu tâm hoài 懷 bất túc 足, tác sự tiến thoái trù trừ, tự tại trung sinh xuất tân khổ, an tĩnh trung đạo 中道 xuất thị phi, tận tâm kiệt lực tố sự vô thành, như hoa khai phùng dạ vũ nguyệt hạo 暭 bị hành vân, khước vi bồi 培 tiền bất chi 之 tĩnh dụng, cưỡng彊 thi 施 thiết ngạnh 硬 truy 追 bồi 陪, như thảo đường hạ quải châu 珠 diêm 簷, chỉ 止 đồ 徒 hảo khang 康bất tri độ lượng 度量.

* Mệnh này là chim phượng sinh ra ở tổ gà, rồng sinh ra trong bụng rắn, tánh cần nhanh gấp nhiều toan tính, ôm trong lòng lo nghĩ không đủ, làm việc tiến lui do dự, tự bên trong nơi mình sinh ra cay đắng đau khổ, ở giữa đạo lý yên tĩnh lại sanh ra phải trái, hết lòng kiệt sức mọi việc chẳng thành, như hoa nở gặp mưa đêm, trăng sáng mây bay qua che lấp, chỉ vì làm nhanh vội, mà không biết trước để vun trồng cái công dụng của sự yên tĩnh, gượng ép bày ra làm cứng rắn bướng bỉnh đòi đền trả, như dưới nhà tranh treo rèm báu, chỉ là những thứ làm cho xinh đẹp mà không biết cân nhắc đo lường.

Cách chung cho 06 giờ

NHẬT NGUYỆT ĐỒNG MINH (Mặt trời mặt trăng cùng sáng)

Giao huy 輝 nhật nguyệt lưỡng gian minh

Sự nghiệp vu hồi 迴 bất kiến thành

Hoạt 活 kế thử đầu đa ám háo 耗

Sinh nhai hổ khẩu hữu quang huy

Sơ niên nguyệt hướng vân trung ẩn

Mộ 暮 hạn hoa tòng cẩm thượng sinh

Tá vấn bàn đào thành kỷ cá

Nhất chi phong tống ngũ canh đăng

Cùng sáng trời trăng hai khoảng sáng

Sự nghiệp quanh co chẳng thấy thành

Mưu sống đầu chuột nhiều ngầm tốn

Miệng cọp sinh sống có sáng sủa

Tuổi trẻ trong mây trăng còn ẩn

Hạn già theo hoa sinh trên gấm

Ướm hỏi được mấy quả Bàn đào

Một cành gió tiễn đèn canh năm

* Tuổi Ất cho 06 giờ Bính: sanh giờ nào cũng tốt và khá, nhưng sự tốt đẹp lại giống như mặt trời mặt trăng tranh nhau cùng sáng làm cho không rõ ràng, vào thời tuổi trẻ khá vội vàng thiếu cân nhắc suy tính nên thất bại nhiều, tạo dựng sự nghiệp khó khăn trở ngại, năm vào năm hay vận hạn Tý sanh kế sống gặp nhiều khó khăn tổn thất, qua năm Dần mới thấy khởi sắc sáng sủa ra, hạn về già mới có được hưởng tốt đẹp, nhưng không được lâu dài như là gió thổi đèn, canh năm trời đã bắt đầu hừng sáng không còn tác dụng được nhiều nữa.

HÀNH TÀNG

Hữu nhật ngộ dương tu 須 thượng mã

Vinh hoa phú quý tất song toàn

Hân thiên yết 謁 địa thành công nhật

Nhất chú thanh hương tạ thượng thiên

Có ngày gặp dê nên lên ngựa

Vinh hoa phú quí ắt cả hai

Báo trời cáo đất đã thành công

Đốt nén hương thơm tạ ơn trời

CƠ NGHIỆP

Nhật nguyệt giao quang bất tịnh 並 minh

Nhất thân cô tiết 節 tối cao thanh

Phùng ngưu ngộ khuyển triều thiên khuyết 闕

Vãn bả 把 tinh 旌 mao 旄 ủng nhất môn

Trời trăng cùng sáng chẳng đều sáng

Một mình giữ tiết rất thanh cao

Gặp trâu gặp chó chầu cổng trời

Muộn cầm cờ quạt giữ một cửa

* Vì tranh sáng cho nên không sáng cho nên cuộc đời lúc trẻ thất bại lận đận, nên giữ chí khí cho vững mạnh bền bỉ chờ thời, đến trung vận sẽ rõ ràng sáng tối sự nghiệp dần dần tốt đẹp hơn, rồi cũng sẽ có ngày thành công, năm hay vận hạn Mùi, Sửu, Tuất tốt để làm việc, việc sẽ thành công hưởng giầu sang phú quý. Tiết 節: tự ức chế mình cho hợp lễ nghĩa.

HUYNH ĐỆ

Nhạn thế phấn 奮 phi u viễn khứ

Độc hướng tiêu tương bạn lữ vô

Hảo vấn hải đường hoa hạ cảnh

Ngộ thời trường khiếu vọng kinh đô

Nhạn vươn cánh bay đi xa thẳm

Một hướng Tiêu tương không khách bạn

Dưới hoa Hải đường hỏi cảnh tốt

Gặp thời kêu vọng tới kinh đô

* Anh em mỗi người trưởng thành bay đi một ngả, riêng mình bay riêng nơi xa thẳm mưu tìm danh vọng, lúc đạt rồi mà hướng vọng về nhà than thở nhớ thương.

HÔN NHÂN

Nhất đối uyên ương giao cảnh 頸 xứ

Kỷ đa âu lộ nhập bình vu

Kim châu bảo ngọc vinh tông tổ

Lưu đắc cao minh tại đế đô

Một đôi uyên ương khoác cổ nhau

Còn nhiều cò cốc vào bãi cỏ

Vàng bạc ngọc ngà hiển tổ tông

Giữ được tiếng cao tại đế đô.

* Vợ chồng hoà hợp thương yêu nhau, cùng hưởng cảnh giầu sang phú quý.

TỬ TỨC

Xuân chí mãn đường 堂 đào lý thụ

Hà tu viên hậu vấn thanh hoàng

Yêu kim y tử thành kế lập

Kỷ hứa khuê圭chương章 tập 襲 ngự thường

Xuân đến đầy nhà cây đào lý

Sao còn hỏi sau vườn còn xanh vàng

Đai vàng áo tía đứng thành hàng

Còn hẹn huân chương đeo áo ban

* Con rất quý hiển làm rạng rỡ tổ tông, là hiền tài của đất nước, đào lý ám chỉ bậc hiền tài, văn chương học hành giỏi, đóng góp tài năng làm ích nước lợi dân.

THU THÀNH

Giao 蛟 long biến hóa giang hồ thuợng

Hổ điệu 調 trùng quan sơn hạ qui

Muộn 悶 bả tửu bôi tiêu nhật nguyệt

Sơn lâm thâm xứ khả tương y

Con giao long biến hóa trên sông hồ

Cọp lượn tầng cửa về dưới núi

Buồn cầm chén rượu qua ngày tháng

Nương mình nơi chốn rừng núi sâu

* Là người có chí khí, sự nghiệp khá lẫy lừng, tuổi già ngày tháng qua hưởng an nhàn nơi thanh tĩnh.Con giao long: con rồng phát xuất từ con giao long là con thuồng luồng không chân và dài như con chình khổng lồ, có nhiều liên hệ với nước mây mưa gió.