QUẺ SỐ 11: PHONG LÔI ÍCH
Quỷ Cốc Tiền Định Số
ẤT – GIÁP
LỘC TỒN TINH
Giờ Giáp Tý cách: Đại hạn cam 甘 vũ (Nắng lâu gặp mưa dầm)
•Giải: Kinh lịch 經歷 hoạn nạn tự hữu sinh cơ khả đắc (Trải qua hoạn nạn tự nhiên có cơ hội được thuận lợi)
* Nắng lâu làm hạn hán khô khan nay gặp mưa dầm dề ngon ngọt thấm sâu trong đất thì còn gì bằng, trong đời dù có gặp những khó khăn hoạn nạn nhưng rồi sẽ có ngày thoát khỏi mà gặp thời vận xoay chuyển được tốt lành.
Giờ Giáp Dần cách: Mãnh hổ xuất lâm (Cọp khoẻ ra khỏi rừng)
•Giải: Uy lực túc dĩ chế nhân (Có đủ uy lực để khống chế người khác)
* Người như là con cọp mạnh khoẻ, ra đời làm việc đủ uy vũ để khuất phục người khác dễ dàng.
THIÊN TẶC TINH
Giờ Giáp Thìn cách: Can 竿 đầu quài 掛 phàm 帆 (đầu cần treo buồm)
• Giải: Kiệt lực kinh doanh hạnh hữu phù trợ (Dốc lực kinh doanh may có người phò trợ)
* Buôn bán lớn chở bằng thuyền, số lượng nhiều thuyền đi chậm, nay trèo lên cần cao giăng buồm cho đi nhanh hơn như để còn sự hỗ trợ, và sự hỗ trợ đó có kết quả tốt.
Giờ Giáp Ngọ cách: Tùng bách kinh 經 sương (Cây tùng bách chịu đựng qua sương móc)
• Giải: Lập chí kiên định tu ngộ tai nhi vô hại (Lập chí vững vàng tuy gặp tai nạn nhưng không hại
* Cây tùng cây bách được người xưa ví như là quân tử có sức chịu đựng bền bỉ, thân cao thẳng bốn mùa xanh tươi, nay chỉ gặp sương móc thì chẳng có thể làm hại bao nhiêu, nên dù dù gặp nạn trong đời cũng sẽ vượt qua mà chẳng đáng ngại.
THIÊN CHẨN TINH
Giờ Giáp Thân cách: Hoàng chung ứng 應 luật (Tiếng chuông vàng ứng với thanh luật)
• Giải: Đắc thời nhi động vô vãng bất lợi (Gặp thời mà hành động thì đi đâu cũng thuận lợi)
* Chuông vàng là đã quý báu, và còn đúng âm luật nữa thì càng thêm quý tiếng kêu vang xa, nên khi hành động thì nơi nào cũng rất thuận lợi.
Giờ Giáp Tuất cách: Lâm 霖 vũ tài tùng (Trồng cây tùng khi mưa dầm)
• Giải: Căn cơ phả hậu đắc tổ tông phúc tý (Căn cơ rất dày nhờ được phúc ấm tổ tiên)
* Cây tùng, bách có sức chịu đựng cao gốc rễ vốn dĩ đã vững vàng, mưa dầm không thể hại được mà còn giúp cho cây mau trưởng thành
PHÁN ĐOÁN:
• Thử mệnh vận hạn điên đảo 顚倒 sự nghiệp gian nan 艱難, ấu niên tuy viết 曰 hiện thành quy mô 規摹 , diệc 亦 phí kinh doanh vạn ban chế độ 亦, tam tứ tiến thoái bách chủng oanh hồi 縈回, tôn tộc phao 拋 li tư tài tụ tán, hung trung biến cát, tiếu lý 理 thành ưu, viễn hữu 友 hữu 有 tri âm, thân thiết 親切 khắc可 như cừu, hoặc hướng âm chất 陰 質 môn trung, lập cá 箇 gia kế, biệt xứ tầm cá xuất đầu, nam tử nan chiêu, nữ tử vi cát.
* Mệnh này thì vận hạn ngả nghiêng lộn ngược, sự nghiệp lại khó khăn, tuổi trẻ tuy rằng hiện thành khuôn mẫu, cũng phí sức về kinh doanh, chia ra hàng muôn thể lệ, tiến lùi ba bốn lần trăm loài quanh co, họ hàng lìa bỏ, tài sản tụ tán, trong xấu lại biến thành tốt, khi vui cười lại thành lo âu, có bạn nơi xa hiểu biết nhau, thân gần thì lại như kẻ thù, hoặc hướng vào trong cửa trời đã định trước, mà một mình tính kế thành lập cái nhà cửa, thì phải đi xa xứ tìm chốn khác để xuất hiện,con trai khó vời con gái lại là tốt. – Âm chất 陰騭 : tốt xấu họa phúc đều bởi trời định, người không thể biết được.
Cách chung cho 06 giờ
TRÚC GIÁNG 降 SƠ 疏 MAI (Cây mai thưa thớt cây trúc rũ xuống)
Nhật nguyệt phân minh âm dữ dương
Nhất thân cô tiết 節 bẩm cao trinh 貞
Cầu danh hoạch 畫 lợi sơ nan ngộ
Khóa mã phùng ngưu phục 復 kiến hanh
Nhất tiễn tự tòng khôn địa phát
Bách hoa tận hướng ngọ thời hinh馨
Tri quân nhược thị hồng trần khách
Tránh 諍 nại 耐 khi khu 崎嶇 vị khả hành
Trời trăng chia rõ âm cùng dương
Một thân bền vững khí trong cao
Cầu danh tính lợi lúc đầu khó
Cưỡi ngựa gặp trâu trở lại thông
Bắn mũi tên theo phía Tây Nam
Trăm hoa hướng ngựa tỏa hương thơm
Nếu phải là ngươi khách cõi trần
Gập ghềnh nhẫn nại chưa vội đi
HÀNH TÀNG
Vận hạn tiện hành hổ vĩ túc 足
Kiến dương 羊 thử 此 nhật thủy 此 khai nhan
Hướng tiền viên thố đa tài bạch
Khuyển phế kê minh bất đắc nhàn
Vận hạn thuận đi cuối năm hổ
Thấy dê ngày ấy mới mở mặt
Nhìn trước vượn thỏ nhiều tiền bạc
Chó sủa gà kêu nhàn vô cùng
CƠ NGHIỆP
Kỷ niên trú túc vọng tiên gia
Hồi thủ Nam quan sự khả ta 嗟
Lập chí phấn 奮 quyền thiên vạn lý
Tang du mậu 茂 đối diệu 曜 hồng hà 霞
Bao năm trú ngụ tại gia tiên
Quay đầu Nam ải việc than ôi
Vung tay lập chí xa muôn dặm
Cảnh chiều tốt đẹp bóng ráng hồn
HUYNH ĐỆ
Hàn tái nhạn phi tam chích khứ
Cô hồng độc lệ 唳 nhất thanh giao 艽
Thu không trừng 澄 triệt vô trần điểm
Ải lạnh ba bóng nhạn bay đi
Xa xăm một chiếc một mình kêu
Trời thu trong suốt không chút bụi
Phong 楓 lạc Ngô giang mãn dã kiều 橋
Sông Ngô lá phong rụng đầy cầu
* Anh em chia xa, một mình rời bỏ quê nhà ra đi, buồn thương nhớ nơi đất lạ quê người trong cảnh chiều cô đơn hoang vắng.
HÔN NHÂN
Kim ô 烏 minh xứ thiềm thừ hắc
Vân tán trường không tâm mặc 默 mặc
Vạn điểm tinh quang chiếu viễn san
Kỉ 幾 đa âu lộ hoành đường lập
Quạ vàng kêu chốn con cóc đen
Mây tan trong không lòng lặng lẽ
Ngàn ánh sao soi dẫy núi xa
Bao nhiêu cò vạc đứng ngang đường
* Vợ chồng khác biệt nhau như mặt trời mặt trăng, trong lòng mỗi người lặng lẽ như mây tan trong khoảng không gian vô tận, nhìn những đôi lứa khác chung quanh, mà tình vợ chồng mình lấp ánh nhỏ nhoi như bóng sao chiếu trên dẫy núi xa xôi. Quạ vàng: Mặt trời, Theo truyện cổ, xưa ở giữa Đông Hải có cây Phù Tang trên có bầy 10 con quạ vàng, mỗi ngày 1 con bay từ phương Đông sang phương Tây, soi sáng thế giới. Ngày kiaĐông hải bão tố, cây Phù tang bị đổ, bầy quạ bay đậu khắp trời gây nên thảm cảnh. Hậu Nghệ là thần tiễn đã bắn rơi 9 con, chỉ để lại một, chính là vầng Thái Dương ngày nay. Thiềm thừ 蟾蜍 con cóc, Tục nói những vết đen đen trên mặt trăng là con cóc, nên gọi mặt trăng là thiềm cung 蟾宮,